Chương 1 TỔNG QUAN 1. Lý do chọn đề tài Trong thực trạng ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhu cầu tính toán để biết trước được các vấn đề trong tương lai như dự báo năng lực sản xuất, dự báo sự lên xuống của nền kinh tế,…. Đây đều là những bài toán hết sức khó khăn với các công cụ toán học phổ thông. Với nhu cầu ngày càng cao, một công cụ mới đã được phát triển đó là mạng nơ-ron nhân tạo.
Mạng nơ-ron nhân tạo là một công cụ toán học mới và được ứng dụng ngày càng rộng rãi. Trước khi giải bài toán cụ thể, mạng nơ-ron cần được huấn luyện với mô hình phù hợp về số lượng nơ ron và số lớp nơ ron để tối ưu được thời gian và tài nguyên để huấn luyện. Vì thế, việc nghiên cứu và lựa chọn số lớp và số nơ ron tối ưu để áp dụng cho các vấn đề khác nhau là vô cùng cần thiết. Hầu hết các nghiên cứu đã được công bố hiện nay đề sử dụng mạng nơ-ron lan truyền thẳng với phương pháp huấn luyện lan truyền ngược.
Đây là thuật toán mang lại khả năng khái quát hóa cho nhiều bài toán khác nhau như phân loại, dự báo và hồi quy tuyến tính. Điều này mang lại khả năng ứng dụng rộng rãi của mạng nơ-ron. Việc ứng dụng mạng nơ-ron nhân tạo để giải cá bài toán trong thực tế đang ngày càng được ưa chuộng, tuy nhiên, với mỗi bài toán khác nhau lại yêu cầu một cấu hình mạng khác nhau. Việc xác định được cấu hình mạng đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến độ hội tụ và thời gian huấn luyện của mạng.
Từ đó, em quyết định chọn đề tài ứng dụng mạng nơ-ron để dự báo tần số dao động tự nhiên của dầm đa chức năng. Nghiên cứu trong nước Ngày nay, Với sự tiến bộ của khoa học vật liệu, nhiều nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để kiểm tra cơ tính của dầm vật liệu đa chức năng. Một nghiên cứu của Nguyễn Tiến Khiêm và nhóm của mình [1], họ đã xác định các vết nứt của khung bằng vật liệu đa chức năng bằng cách sử dụng phân tích wavelet và mạng nơ-ron. Tính chất vật liệu có kết cấu thay đổi dọc theo chiều dày của phần tử dầm theo định luật lũy thừa phân bố thể tích.
Các vết nứt được mô hình hóa bằng hai lò xo không khối lượng có độ cứng được tính từ độ sâu của chúng. Phương pháp độ cứng động (DSM) được phát triển để tính toán các dạng hình dạng của kết cấu khung bị nứt dựa trên các hàm dạng thu được dưới dạng nghiệm tổng quát của dao động trong dầm đa chức năng có nhiều vết nứt. Phân tích wavelet của các dạng dao động được sử dụng để định vị các vết nứt tiềm ẩn trong cấu trúc khung và cung cấp dữ liệu đầu vào cho mạng nơ-ron để xác định độ sâu vết nứt. Quy trình tích hợp này đã được chứng minh là rất hiệu quả trong việc đánh giá chính xác vị trí và độ sâu của các vết nứt, ngay cả khi gặp phải nhiễu và lượng dữ liệu đo hạn chế.
Do và cộng sự [2] đã nghiên cứu về tối ưu hóa vật liệu của dầm đa chức năng bằng mạng nơ-ron và thuật toán tìm kiếm sinh vật cộng sinh (mSOS). Nghiên cứu tập trung vào tối ưu hóa phân bố vật liệu của dầm đa chức năng, được mô tả bởi các điểm kiểm soát nằm dọc theo chiều dày dầm và sử dụng các hàm cơ sở B-spline. Mạng nơ-ron được sử dụng để phân tích thay thế cho phân tích phần tử hữu hạn (FEA), cho phép dự đoán trực tiếp các giải pháp tối ưu thông qua mối quan hệ giữa dữ liệu đầu vào và đầu ra trong quá trình đào tạo. Mỗi bộ dữ liệu được tạo ngẫu nhiên từ quá trình phân tích qua các lần lặp sử dụng phân tích đẳng hình học (IGA).
mSOS, một thuật toán siêu hình mạnh mẽ, được sử dụng để giải quyết hai vấn đề tối ưu hóa: mất ổn định và rung tự do với các ràng buộc tần số khác nhau. Kết quả tối ưu trong các ví dụ được tạo ra đã được so sánh với kết quả của sự kết hợp IGA và mSOS để chứng minh tính hiệu quả của phương pháp tối ưu này. Nghiên cứu ngoài nước F. Nazari và cộng sự [3] đã nghiên cứu việc xác định vết nứt trong dầm đa chức năng bằng mạng nơ-ron.
Họ sử dụng mô hình dầm công xôn, được mô hình hóa bằng phương pháp phần tử hữu hạn để phân tích vết nứt kép và đánh giá bốn tần số tự nhiên đầu tiên với các độ sâu và vị trí vết nứt khác nhau. Sau đó, bốn mạng nơ-ron nhiều lớp được áp dụng để xác định vị trí và độ sâu của cả hai vết nứt trên dầm. Mạng nơ- ron được huấn luyện bằng phương pháp lan truyền ngược. Độ chính xác của kết quả dự đoán cho thấy quy trình đề xuất phù hợp để phát hiện và nhận dạng vết nứt kép trong dầm đa chức năng.
Mohammad Hosein Yas và nhóm nghiên cứu [4] đã ứng dụng thuật toán cạnh tranh và mạng nơ-ron để tối ưu hóa kết cấu của dầm vật liệu đa chức năng. Dầm trong nghiên cứu được mô hình hóa với ba tham số phân bố theo quy luật lũy thừa. Mục đích chính là tìm ra mối quan hệ phần khối lượng tối ưu nhằm tối đa hóa tần số tự nhiên đầu tiên của dầm. Phương pháp tối ưu sử dụng thuật toán cạnh tranh (ICA) được đề xuất cho một số hàm chi phí chuẩn.
Mạng nơ-ron nhân tạo (ANN) được huấn luyện với các tập dữ liệu từ phương pháp cầu phương vi phân tổng quát, sau đó áp dụng làm hàm mục tiêu trong ICA nhằm mục đích tăng tốc độ tối ưu hóa bằng cách tái tạo tần số tự nhiên cơ bản của cấu trúc. Hiệu suất của ICA được so sánh với các thuật toán khác, cho thấy hiệu quả của việc kết hợp ANN và ICA trong thiết kế profile vật liệu dầm. Chih-Ping Wu và đồng sự [5] đã nghiên cứu dao động phi tuyến của dầm vật liệu đa chức năng bằng cách sử dụng nguyên lý phần tử hữu hạn và mạng nơ-ron. Sử dụng nguyên lý Hamilton kết hợp với lý thuyết chùm Timoshenko, nhóm đã phát triển phương pháp phần tử hữu hạn hỗn hợp (FE) để phân tích dao động tự do phi tuyến của các dầm phân cấp chức năng (FG) với các điều kiện biên đơn giản.
Tính chất vật liệu của dầm FG thay đổi dần và trơn tru theo chiều dày, dựa trên quy luật lũy thừa. Tính phi tuyến hình học của von Kármán được xem xét, và giải pháp FE cho mối quan hệ biên độ-tần số được thực hiện qua quy trình lặp. Phương pháp FE 3 hỗn hợp cho thấy các nghiệm hội tụ nhanh chóng và phù hợp với các nghiệm chính xác trong tài liệu. Mạng nơ-ron lan truyền ngược perceptron (MP) đa lớp (BPNN) được phát triển để dự đoán hành vi rung tự do phi tuyến của dầm FG.
Sau khi huấn luyện, MP BPNN dự đoán chính xác mối quan hệ biên độ-tần số so với kết quả của phương pháp FE hỗn hợp, tiết kiệm thời gian xử lý hơn. Muhittin Turan và nhóm nghiên cứu [6] đã tính toán tần số tự nhiên và độ ổn định của dầm vật liệu đa chức năng bằng nguyên lý phần tử hữu hạn và mạng nơ-ron nhân tạo. Giải pháp phân tích dựa trên lý thuyết biến dạng cắt bậc nhất được thực hiện để phân tích dao động tự nhiên và mất ổn định của các dầm đa chức năng (FGM- P) dưới các điều kiện biên khác nhau. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn (FEM) và mạng nơ-ron nhân tạo (ANN).
Giải pháp phân tích dựa trên hàm Ritz và các hàm chuỗi đa thức khác nhau được đề xuất cho từng điều kiện biên. Nguyên lý Lagrange được sử dụng để suy ra các phương trình chuyển động, với quy tắc định luật lũy thừa mô tả sự biến thiên về thể tích của vật liệu làm dầm. Tần số cơ bản chuẩn hóa và tải trọng uốn tới hạn được tính toán cho các điều kiện biên khác nhau, chỉ số định luật lũy thừa (k), độ mảnh (L/h), hệ số độ xốp (e) và phân bố độ xốp (FGM-P1, FGM-P2). Các hàm chuỗi đa thức được xác minh bằng tài liệu và so sánh với kết quả số từ FEM và ANN, cho thấy tính tương thích cao.
Từ các nghiên cứu trên, ta thấy công nghệ vật liệu đa chức năng đang thể hiện sự ưu việt và ngày càng được áp dụng vào nhiều công việc trong sản xuất và đời sống. Các nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp giải tích, sử dụng mạng nơ-ron, phần tử hữu hạn,… và đối sánh tần số dự báo được từ các phương pháp này. Từ các kết quả có thể thấy được các phương pháp có sự đồng nhất với nhau. Tuy nhiên, để tính toán được phương trình dao động bằng giải tích hay giải bài toán bằng cách chia lưới mô hình như sử dụng phần tử hữu hạn đều yêu cầu trình độ chuyên môn cao và quá trình nghiên cứu dài.
Để thuận tiện cho việc chẩn đoán dầm vật liệu đa chức năng, ta có thể ứng dụng mạng nơ-ron để mô dự báo tần số tự do của dầm. Công cụ này cho phép giải bài toán dao động nhanh và cho kết quả tương 4 đồng với kết quả của các phương pháp khac. Tuy nhiên, để giải được bài toán thì trước tiên mạng nơ-ron cần được huấn luyện và yêu cầu một lượng lớn số liệu có trước. Tính cấp thiết của đề tài Với sự phát triển của khoa học ngày nay, mạng nơ-ron là mộ công cụ hữu ích và ngày càng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực.
Đặc biệt, áp dụng mạng nơ-ron để dự báo các mô hình phức tạp như dầm vật liệu đa chức năng mang lại một phương án hữu ích và ít tốn tài nguyên để đánh giá cơ tính của vật liệu này. Công cụ này cung cấp khả năng dự báo và phân tích hiệu quả giúp các kỹ sư tối ưu được nhiều thời gian tính toán. Ngoài ra, việc nghiên cứu mạng nơ-ron còn có thể được áp dụng để làm nhiều việc khác như tính toán xử lý dữ liệu [7] , phân tích hình ảnh [8], giải bài toán mỏi [9], tối ưu hóa quy trình [10] …. Để làm được điều này, mạng nơ-ron cần được tối ưu mô hình để tính toán được nhiều bài toán và có khả năng khái quát hóa các vấn đề.
Điều này khẳng định rằng nghiên cứu về cấu trúc mạng nơ-ron là một hướng đi có tính thời đại và giúp ích cho công cuộc phát triển bền vững của nền khoa học.