Chương 1: Giới thiệu bài toán 1. Lý do chọn đề tài Trong thời kỳ bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thời đại 4.0, việc áp dụng các công nghệ hiện đại đã dần thay thế các mô hình kinh doanh truyền thống, mang đến nhiều tiện ích, cũng như nhiều trải nghiệm tốt hơn dành cho người dùng. Một trong những thay đổi lớn nhất là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các sàn thương mại điện tử. Thương mại điện tử hiểu một cách đơn giản là các hoạt động mua bán sản phẩm, dịch vụ thông qua các hệ thống điện tử như internet và các mạng máy tính.
Ngoài ra, ở Việt Nam định nghĩa về thương mại điện tử cũng được Chính Phủ sớm nghiên cứu, ban hành, được pháp luật công nhận và được thông tin chi tiết: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác” – Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử [1]. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của các nghiên cứu về khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học dữ liệu và dữ liệu lớn đã cho phép chúng ta thực hiện hàng triệu các giao dịch trong cùng một thời điểm, cộng thêm ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các sàn thương mại điện tử. Không chỉ được gói gọn trong từng quốc gia, vùng lãnh thổ, mà giờ đây thương mại điện tử đã xóa mờ đi khoảng cách về địa lý và tiến tới toàn cầu hóa trên mọi sản phẩm.1 Các quốc gia có sự phát triển mạnh về thương mại điện tử toàn cầu năm 2023. Theo thống kê của trang Inside Intelligence, một công ty chuyên nghiên cứu, thống kê và cung cấp chiến lược trên các sàn thương mại điện tử toàn cầu, Việt Nam chúng ta nằm ở vị trí thứ 5 (Hình 1.1) với tốc độ tăng trưởng 19% trong năm 2022, bất chấp sự ảnh hưởng to lớn của đại dịch Covid-19, chứng tỏ Việt Nam là một trong những thị trường rất tiềm năng để phát triển thương mại điện tử.
Điều này có thể chứng minh thông qua một số luận điểm: • Kinh tế Việt Nam đang nằm trong giai đoạn đang phát triển nhanh và bền vững nên sẽ là một thị trường tiềm năng cho các nhà đầu tư. • Độ tuổi trung bình của Việt Nam đang 33.7 [3] là một trong những nước có dân số trẻ, điều này cũng là một lợi thế lớn khi chúng ta tiếp cận với những công nghệ hiện đại và có sự thay đổi với tần suất nhanh như hiện nay. Nắm bắt được các yếu tố này, các sàn thương mại điện tử lớn có thể kể đến như Shopee, Lazada, Tiki… đã sớm có mặt trên thị trường, và góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của thương điện tử ở Việt Nam. Mục đích nghiên cứu Đối với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử, việc tổ chức lưu trữ thông tin người dùng, các sản phẩm, thông tin về giao dịch, đơn hàng…thì hiện tại các công nghệ về big data (dữ liệu lớn), hay các dịch vụ được cung cấp bởi các hãng lớn như 3 Oracle, SQLServer đang làm rất tốt công việc này.
Câu hỏi đặt ra là “Ngoại trừ việc lưu trữ, làm thế nào để chúng ta có thể khai thác hay khai phá những nguồn dữ liệu lớn và màu mỡ này để phục vụ cho quá trình kinh doanh ?”. Dưới góc nhìn là nhà quản lí của các sàn thương mại điện tử thì làm sao để tăng được doanh số? Cách đơn giản nhất là sẽ duy trì số lượng người dùng hiện hữu, thu hút người dùng mới, từ đó có thể tăng được tỉ lệ chuyển đổi thành các đơn hàng. Vậy làm thế nào để lôi kéo, hay thu hút được người dùng sử dụng sản phẩm của mình. Câu trả lời là tăng tính năng, và nâng cao trải nghiệm của người dùng, làm cho họ thích thú, đưa ra được các thông tin dự đoán về các sản phẩm mà người dùng đang có nhu cầu, hoặc gợi ý cho họ những sản phẩm đang được thịnh hành.
Từ đó giúp các nhà quản lí có thể đạt được mục đích ban đầu là duy trì và tăng số lượng người sử dụng, góp phần vào việc tăng doanh số. Dưới góc nhìn của một người dùng, thì họ sẽ có xu hướng sử dụng những ứng dụng mà có thể cho họ sự trải nghiệm cao khi sử dụng, điều này không chỉ đến từ những tìm kiếm thông thường, mà còn đến từ sự thông minh mà ứng dụng có thể mang lại. Kết hợp các điều kiện trên, từ nhu cầu của một nhà quản lí, một chủ doanh nghiệp mong muốn nâng cao chất lượng sản phẩm từ đó có thể tăng doanh số và mong muốn của người dùng là được trải nghiệm những sản phẩm tốt hơn, chúng ta sẽ cần có một yếu tố mới để thực hiện điều này và một trong những cách tiếp cận tốt nhất, đơn giản nhất là áp dụng hệ thống đề xuất vào trong quá trình vận hành. Và một trong những kĩ thuật được quan tâm và sử dụng rộng rãi cho hệ thống đề xuất là áp dụng các mạng học sâu.
Với những phân tích và yêu cầu trên, nghiên cứu này tập trung giải quyết vấn đề sau: • Khai phá nguồn dữ liệu đang có sẵn trên STMĐT (sàn thương mại điện tử), bằng cách xây dựng hệ thống đề xuất thông minh dành cho người dùng. Hệ thống này có thể đề xuất được các sản phẩm đang có xu hướng thịnh hành, được đông đảo người dùng sử dụng hoặc có các sản phẩm đang được ưu thích trong những nhóm người dùng nhất định. • Hiện thực hai mạng học sâu đang được đang được phổ biến ở thời điểm hiện 4 tại là NCF (Neural Collaborative Filtering) và WD (Wide and Deep Learning) với những đề xuất để cải tiến, đồng thời đưa ra các nhận xét đánh giá về mức độ phức tạp trong quá trình hiện thực, khả năng vận hành của hai mạng học sâu trên cùng một tập dữ liệu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.
Ý nghĩa khoa học Dựa trên các cơ sở lí thuyết được trình bày về hai mạng học sâu là NCF và WD (sẽ được trình bày rõ hơn ở chương 3.3), đề tài nghiên cứu sẽ thiết kế và hiện thực lại hai mạng học sâu này, sao cho có thể vận hành trên cùng một tập dữ liệu. Từ đó có thể đưa ra các nhận xét, đánh giá về quá trình thiết kế, thời gian huấn luyện, và kết quả vận hành của hai mạng này. Đồng thời, cũng dựa trên các cơ sở lí thuyết, đề tài sẽ đề xuất một số cải tiến, nhằm giúp các mạng có thể hoạt động tốt hơn, đóng góp vào việc phát triển các hệ thống đề xuất. Ngoài ra, đề tài còn đưa ra một phương pháp đánh giá nhằm kiểm tra tính tổng quát của mạng WD, áp dụng thuật toán PCA (Principal Component Analysis) và kỹ thuật K-Means trong Machine Learning (học máy).
Phương pháp đánh giá này nhằm giúp chúng ta có thêm một số kết quả, để đảm bảo mô hình hoạt động tốt trước khi áp dụng vào thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Như chúng ta đã biết việc triển khai, áp dụng một công nghệ mới với một sản phẩm, ứng dụng đang được vận hành là một điều không dễ dàng, đặc biệt đối với lĩnh vực học sâu, chúng ta cần có một hệ thống các siêu máy tính để thực hiện huấn luyện và điều này cần một nguồn chi phí lớn. Nên đòi hỏi các nhà quản lí, doanh nghiệp cần có những nghiên cứu kĩ lưỡng để trang bị hệ thống tính toán phù hợp, vừa đủ không gây lãng phí về tài chính và tài nguyên của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tính chất về sản phẩm và dữ liệu là khác nhau, và mục tiêu triển khai các hệ thống đề xuất đối với từng lĩnh vực là khác nhau, nên đòi hỏi các doanh nghiệp cần áp những mạng học sâu khác nhau sao cho phù hợp nhất.
Đề tài này sẽ giúp cho các nhà quản lí, doanh nghiệp có thêm một số cơ sở, 5 góc nhìn từ đó có thể tham khảo và giải quyết hai vấn đề được nêu trên, khi có nhu cầu triển khai hệ thống đề xuất sử dụng hai mạng học sâu NCF và WD. 6 Chương 2: Các nghiên cứu liên quan 2. Các nghiên cứu trong nước Hiện nay, về các STMĐT có nguồn gốc là các doanh nghiệp của Việt Nam đang rất hạn chế. Có thể kể đến một số STMĐT nổi bật như Tiki, Sendo, Vỏ Sò.
Nhưng trong đó chỉ có Tiki là có thể cạnh tranh các vị trí nằm trong nhóm 3 so với các sàn thương mại đến từ nước ngoài như Shopee, Lazada, các STMĐT còn lại chưa được phổ biến, cũng như số lượng người sử dụng còn hạn chế nên việc áp dụng các phương pháp đề xuất chưa được sử dụng rộng rãi. Các STMĐT lớn như Shopee, Lazada hiện tại đã có áp dụng hệ thống đề xuất, tuy vậy các hệ thống này còn khá sơ khai, chưa áp dụng các công nghệ hiện đại, và cũng chưa thật sự gây ấn tượng mạnh với người dùng. Cụ thể đối với STMĐT Shopee [4], đang sử dụng thuật toán “Apriori”. Apriori là một phương pháp tìm ra mối quan hệ giữa một hoặc nhiều sản phẩm trong tập dữ liệu lớn.
Thuật toán Apriori sử dụng tần suất thuộc tính được xác định trước để có thể tìm thấy thêm thông tin. Trong thuật toán này, các sản phẩm đề xuất có thể xuất hiện sẽ được xác định bằng cách tính thông qua hai đại lượng chính là giá trị hỗ trợ tối thiểu (support) và độ tin cậy tối thiểu (confidence) [5]. Cụ thể thuật toán Apriori gồm 3 thành phần là support, confidence, lift và được biểu diễn như công thức (1), (2) và (3): 𝑆𝑢𝑝𝑝𝑜𝑟𝑡 (𝐴) 𝑆ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐á𝑐 𝑔𝑖𝑎𝑜 𝑑ị𝑐ℎ 𝑚à 𝐴 𝑥𝑢ấ𝑡 ℎ𝑖ệ𝑛 = (1) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑔𝑖𝑎𝑜 𝑑ị𝑐ℎ 𝑆𝑢𝑝𝑝𝑜𝑟𝑡 (𝐴 ∪ 𝐵) 𝐶𝑜𝑛𝑓𝑖𝑑𝑒𝑛𝑐𝑒 (𝐴 → 𝐵 ) = (2) 𝑆𝑢𝑝𝑝𝑜𝑟𝑡 (𝐴) 𝑆𝑢𝑝𝑝𝑜𝑟𝑡 (𝐴 → 𝐵) 𝐿𝑖𝑓𝑡 = (3) 𝑆𝑢𝑝𝑝𝑜𝑟𝑡 (𝐴) ∗ 𝑆𝑢𝑝𝑝𝑜𝑟𝑡 (𝐵) Dựa vào công thức (1), (2), (3) chúng ta có thể thấy để đề xuất được một sản phẩm thì thuật toán Apriori cần trải qua 3 lần tính toán và yếu tố then chốt trong thuật toán Apriori là phải tính được số lượng giao dịch của một sản phẩm và tổng số giao dịch tại một thời điểm, điều này đòi hỏi cần phải kết nối và truy vấn dữ liệu liên tục 7 để đảm bảo số liệu được cập nhật mới nhất, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất trong quá trình vận hành của ứng dụng [6].