Chương 1: CO SO LY LUAN VE CHAT LƯỢNG DOI NGU CONG CHỨC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUQC UBND CAP QUAN, THANH PHO TRUC THUỘC TRUNG UONG 1. Đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp quận, Thành phố trực thuộc Trung ương 1. Khái niệm đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp quận, Thành phố trực thuộc Trung ương Để có thể định nghĩa được khái niệm đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận, Thành phố trực thuộc Trung ương cần thiết phải làm rõ nội hàm của các khái niệm sau: Đội ngũ; công chức; cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận, Thành phó trực thuộc Trung ương. Thứ nhất, đối với khái niệm đội ngũ, theo Từ điển tiếng Việt được hiểu là: “J.
Khối đông người được tập hợp và tổ chức thành lực lượng chiến đấu; 2. Tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng”. Đặt trong bối cảnh ngữ nghĩa của khái niệm đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận, Thành phố trực thuộc Trung ương có thê hiểu khái niệm đội ngũ theo cách hiểu thứ hai nêu trên, tức là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng. Thứ hai, đối với khái niệm công chức, theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (được Luật số: 52/2019/QH14 sửa đổi, bỗ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; những sửa đôi này đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 - Sau đây gọi tắt là Luật Cán bộ, công chức) thì: “Công chức là công dân Uiệt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung wong, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân 16 Luật Tổ chức chính quyên địa phương) thì cấp chính quyền địa phương ở quận gồm có Hội đồng nhân dân quận và UBND quận.
Theo quy định tại Khoản I Điều 114 Hiến pháp 2013 thì UBND ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Như vậy, có thê hiểu UBND quận (hoặc cấp quận) là cơ quan do Hội đồng nhân dân quận bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân quận, cơ quan hành chính nhà nước ở quận, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân quận và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tô chức ở cấp tỉnh, cấp huyện (gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thánh phố trực thuộc trung ương - theo Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương), là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên. Theo quy định của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/05/2014 quy định tô chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tinh (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 108/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/9/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định tô chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương - Saw đây gọi tắt là Nghị định số 37/2014/NĐ-CP đã được sửa đối, bổ sung) thì cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương - theo Khoản 1 Điều I1 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP đã được sửa đôi, bỗ sung) gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (sau đây gọi chung là phòng).
18 Điều 3 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP đã được sửa đôi, bổ sung quy định: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tô chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cầu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Điều 7 và Khoản 1 Điều § Nghị định số 37/2014/NĐ-CP đã được sửa đôi, bô sung xác định ở quận có 12 cơ quan chuyên môn sau đây được tổ chức: (¡) Phòng Nội vụ; (1ñ) Phòng Tư pháp; (11) Phòng Tài chính - Kế hoạch; (iv) Phòng Tài nguyên và Môi trường: (v) Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; (vi) Phòng Văn hóa và Thông tin; (vi) Phòng Giáo dục và Dao tao; (viii) Phong Y tế; (ix) Thanh tra quận; (x) Văn phòng Hội đồng nhân dân và UBND quận; (xi) Phòng Kinh té; (xii) Phong Quan ly dé thi. Với cách hiểu đối với các khái niệm thành phần như đã trình bày ở trên, trong luận văn này khái niệm đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận, Thành phố trực thuộc Trung ương được hiểu như sau: Đội ngữ công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận, Thành phó trực thuộc Trung ương là tập hợp gồm một số đông công dân Liệt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong các cơ quan chuyên môn thuộc UUBND quận, trong biên chế và hướng lương từ ngân sách nhà nước.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức thì người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND được xác định là công chức. Đặc điểm đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp quận, Thành phố trực thuộc Trung ương 19 Đội ngũ công chức Việt Nam nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận nói riêng được hình thành và phát triên gắn liền với quá trình phát triển cách mạng nước ta qua các thời kỳ khác nhau. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận là một bộ phận trong hệ thống công chức hành chính nhà nước, vì vậy, họ cũng có các đặc điểm của công chức hành chính nhà nước, đó là: Thứ nhất, là một bộ phận nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị của quận, được hình thành bằng hình thức tuyển dụng hoặc bổ nhiệm. Việc tuyên dụng công chức do cơ quan, tổ chức có thâm quyền tiền hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao.
Người được tuyển dụng phải là người đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định. Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện người được tuyển dụng phải trai qua kỳ thi tuyên hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật. Thi tuyên là một phương thức tuyển dụng công chức, trong đó, hình thức, nội dung thi tuyên phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính phủ.
Hết thời gian tập sự, người đứng đầu cơ quan, tô chức, đơn vị sử dụng công chức đánh giá phẩm chất đạo đức và kết quả công việc của người đó; nếu đạt yêu cầu thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thâm quyền quản lý công chức quyết định bỗ nhiệm chính thức vào ngạch Bên cạnh việc bỗ nhiệm vào một ngạch sau khi người được tuyên dụng hoàn thành chế độ tập sự thì bổ nhiệm còn là một con đường trực tiếp hình thành công chức. Đó là việc công chức được bỗ nhiệm đề giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý. Việc bỗ nhiệm công chức giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tô chức, đơn vị; tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý. Thâm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thâm quyền.
20 Thứ hai, thực hiện thường xuyên một công vụ theo nghiệp vụ, chuyên môn mà công chức đó đảm nhiệm. Đặc điểm này đòi hỏi công chức chuyên môn phải có các kỹ năng, nghiệp vụ và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực mà mình đảm nhiệm. Thứ ba, thực hiện công vụ theo một quy trình công tác đã được pháp luật xác định và họ không có quyền thay đổi nếu không được pháp luật cho phép. Thứ tư, được chia thành những bậc hạng khác nhau tùy theo tính chất, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ của công việc và được bổ nhiệm vào vị trí công tác theo thứ bậc đó.
Công chức là người làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tô chức xã hội nhất định và có tính chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt. Tính thường xuyên thể hiện ở việc tuyên dụng là không giới hạn về thời gian. Khi đã được tuyển dụng vào một ngạch, chức danh, chức vụ thì một người là công chức sẽ làm việc thường xuyên, liên tục, không gián đoạn về mặt thời gian. Tính chuyên môn nghiệp vụ được thể hiện là công chức được xếp vào một ngạch.
Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Ngạch công chức bao gồm: chuyên viên cao cấp và tương đương: chuyên viên chính và tương đương: chuyên viên và tương đương; cán sự và tương đương: nhân viên. Như vậy, công chức là chuyên viên cao cấp tương đương có thứ bậc về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là cao nhất, thứ bậc đó giảm dần cho đến nhân viên. Thứ năm, được nhà nước trả lương.
Vì công chức thực thi công vụ nhà nước do vậy họ được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.