CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Đế tản nhiệt cho linh kiện LED công suất 1.1 Vấn đề tản nhiệt của các linh kiện điện tử công suất Hiện nay các linh kiện điện tử như laser điốt, đèn LED, chip điện tử, … đã trở nên quen thuộc bởi vô vàn những ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên khi các linh kiện này hoạt động ở công suất cao sẽ có một số khó khăn sau: Ví dụ như laser (sự khuếch đại ánh sáng bằng phát xạ cưỡng bức) là một trong những thành tựu lớn nhất của vật lý hiện đại trong thế kỷ 20. Mặc dù laser mới được phát minh vào thập niên 60 nhưng đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: quang học ứng dụng, điện tử, cơ khí, công nghệ thông tin, y học,. và mở ra một kỷ nguyên mới của ngành vật lý cho thế kỷ 21 – kỷ nguyên quang tử.
Việc ứng dụng laser công suất thấp trong y học như thay thế dao mổ trong phẫu thuật, tạo nguồn năng lượng tiêu diệt tế bào ung thư, … đã mở ra một hướng ứng dụng mới đầy hứa hẹn trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Mặt khác, việc ứng dụng laser công suất trong gia công vật liệu như khoan, cắt, gọt, … đã trở nên thiết yếu trong nhiều ngành công nghiệp hiện đại đòi hỏi độ chính xác và hiệu suất cao. Tuy nhiên khi ứng dụng laser có công suất cao vào thực tế lại xuất hiện một trở ngại lớn là nó sẽ tỏa ra một lượng nhiệt lớn làm cho ảnh hưởng đến độ chính xác của thiết bị như chùm sáng phát ra sẽ không còn có độ tập trung cao làm giảm hiệu suất hoạt động, cũng như làm hư hại thiết bị do sự rạn nứt nhiệt. Hiện nay, đèn LED (điốt phát quang) đang dần thay thế các loại đèn chiếu sáng thông thường do đặc tính nổi bật là tiết kiệm điện năng (đèn LED công suất 5 W có độ sáng tương đương với bóng đèn công suất 20 W), có hiệu suất phát sáng lên đến gần cả trăm lumens/Watt và tuổi thọ của đèn LED cao hơn khoảng 50 lần so với đèn chiếu sáng thông thường.
Ngoài ra đèn LED trắng hay đèn LED mầu đều có nhiều ứng dụng rộng rãi mà đèn huỳnh quang không làm được như có thể phát sáng ra nhiều mầu sắc phong phú, hình dạng nhỏ gọn phù hợp với việc trang trí chiếu sáng cho đèn xe, đèn đường, đèn hầm mỏ, đèn chiếu hậu cho màn hình của điện thoại cầm tay, đèn chiếu hậu cho màn hình tinh thể lỏng, in ấn kỹ thuật số,. Tuy nhiên khi ứng dụng đèn LED trắng để có thể chiếu sáng, chúng ta phải sử dụng những đèn LED công suất. Đối với kích thước nhỏ gọn của LED thì lượng nhiệt tỏa ra trên một đơn vị diện tích của đèn LED là rất 3 z lớn nên dễ gây ra sự hư hại phẩm chất và tuổi thọ của đèn LED. Do đó riêng chi phí cho sản xuất đế tản nhiệt của đèn LED công suất đã chiếm tới 50 % chí phí toàn bộ để sản xuất một đèn LED thương phẩm [16].
Vì vậy đèn LED có công suất càng lớn thì kỹ thuật đóng gói đèn LED sẽ càng trở nên phức tạp và có giá thành càng cao (hình 1. Sự thay đổi của kỹ thuật đóng gói đèn LED phụ thuộc vào công suất và vấn đề tản nhiệt của đèn LED [16] Thông qua các ví dụ trên, chúng ta nhận thấy rằng khi tăng công suất hoạt động của các linh kiên điện tử để ứng dụng trong cuộc sống, chúng ta sẽ phải giải quyết một trở ngại lớn; đó là bài toán tản nhiệt cho các linh kiện này. Chính vì lý do đó nên việc nghiên cứu ứng dụng các vật liệu tản nhiệt cho các linh kiện điện tử công suất đang trở thành một yêu cầu cấp thiết hiện nay.2 Giới thiệu về linh kiện LED LED (điốt phát quang) là linh kiện bán dẫn quang có khả năng phát ra ánh sáng khi có hiện tượng tái hợp xảy ra trong chuyển tiếp p – n. Ánh sáng do LED phát ra là ánh sáng không kết hợp, tự phát và đẳng hướng.
Về nguyên tắc tất cả các chuyển tiếp p – n đều có khả năng phát ra ánh sáng khi được phân cực thuận nhưng chỉ có một số loại vật liệu tái hợp trực tiếp mới cho hiệu suất tái hợp cao. Vật liệu chế tạo LED là các nguyên tử nhóm III và V: GaAs, GaP, GaAsP, … đây là những vật liệu tái hợp trực tiếp. Tuỳ theo vật liệu chế tạo mà ánh sáng bức xạ của LED có thể ở những vùng bước sóng khác nhau. LED bức xạ ra ánh sáng nhìn thấy (LED màu) được sử dụng trong các hệ thống chiếu sáng hoặc quang báo.
LED bức xạ hồng ngoại 4 z (LED hồng ngoại) được sử dụng trong hệ thống bảo vệ, sản xuất, thông tin quang, … Hình 1. Giản đồ sơ lược về cấu tạo của đèn LED [1] Nguyên tắc làm việc của LED Dựa trên hiệu ứng phát sáng khi có hiện tượng tái hợp điện tử và lỗ trống ở vùng chuyển tiếp p – n, LED sẽ phát quang khi được phân cực thuận. Nghĩa là biến đổi năng lượng điện thành năng lượng quang (hình 1. Cường độ phát quang tỉ lệ với dòng qua LED.
Khi phân cực thuận các hạt tải đa số sẽ ồ ạt di chuyển về phía bán dẫn bên kia. Điện tử từ lớp bán dẫn n sẽ khuếch tán sang lớp p và lỗ trống từ lớp p lại khuếch tán sang lớp n. Trong quá trình di chuyển chúng sẽ tái hợp với nhau và phát ra các photon (hình 1. Nguyên lý hoạt động của đèn LED [1] 5 z Đặc tuyến Von–Ampe của đèn LED Đặc tuyến V–A của LED giống như của điốt thông thường.
Điện áp phân cực thuận UD: 1,6 – 3 V; điện áp phân cực ngược: 3 – 5 V; dòng ID khoảng vài chục mA. Ith Ung max UD UAK Hình 1. Đặc tuyến Von–Ampe của đèn LED [1] Nồng độ hạt dẫn của lớp p và lớp n rất cao nên điện trở của LED rất nhỏ. Do đó khi mắc LED phải mắc nối tiếp với một điện trở giới hạn dòng để đảm bảo an toàn.
Ảnh hưởng của của nhiệt độ đối với LED Khi ứng dụng đèn LED có công suất để chiếu sáng, với kích thước nhỏ gọn của nó thì lượng nhiệt tỏa ra trên một đơn vị diện tích của đèn LED là rất lớn nên dễ gây ra sự hư hại phẩm chất và tuổi thọ của đèn LED. Nhìn chung LED rất nhạy với nhiệt độ: Hình 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với bước sóng ánh sáng của đèn LED phát ra [10] 6 z – Khoảng nhiệt độ làm việc thông thường của LED: – 60 oC đến 80 oC [1]. – Nhiệt độ càng tăng, bước sóng của LED càng dài (tăng thêm 0,02 ÷ 0,09 m/oC).5 mô tả khi nhiệt độ do đèn LED tỏa ra tăng lên sẽ kéo theo sự thay đổi màu sắc ánh sáng mà nó phát ra (tương ứng với bước sóng của ánh sáng càng dài).
– Nhiệt độ tăng sẽ làm cường độ phát quang của đèn LED giảm cỡ 1%/oC (hình 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với cường độ phát sáng của đèn LED phát ra [10] Như vậy, để có thể ứng dụng đèn LED công suất cho chiếu sáng, chúng ta sẽ phải giải quyết bài toán tản nhiệt cho các đèn LED này. Vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng các đế tản nhiệt cho đèn LED công suất trở thành một yêu cầu bắt buộc. Đế tản nhiệt cho linh kiện LED Đế tản nhiệt cho các linh kiện điện tử đóng vai trò như một lớp chuyển tiếp giữa linh kiện và bộ phận làm mát (hình 1.
Chức năng cơ bản của đế tản nhiệt là lấy nhiệt từ linh kiện và nhanh chóng tản nhiệt xuống bề mặt rộng của bộ phận làm mát để khử lượng nhiệt sinh ra từ linh kiện. Linh kiện Đế tản nhiệt Tản Bộ phận làm mát nhiệt Hình 1. Vai trò của đế tản nhiệt trong kỹ thuật đóng gói linh kiện 7 z Do đó, đế tản nhiệt cần có độ dẫn nhiệt cao để có thể nhanh chóng lấy nhiệt từ linh kiện. Ngoài các tính chất vật lý đó, đế tản nhiệt phải có giá thành thấp để có thể ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp.
Kim cương nhân tạo là vật liệu tản nhiệt đầy tiềm năng do có ưu điểm nổi bật là độ dẫn nhiệt cao cỡ 2000 W/mK gấp 5 lần so với đồng (loại vật liệu tản nhiệt truyền thống có độ dẫn nhiệt 380 W/mK) [18]. Do đó chúng tôi đã chọn vật liệu kim cương nhân tạo làm đế tản nhiệt cho các linh kiện điện tử công suất như đèn LED, laser, … 1.2 Vật liệu kim cương Trong bảng hệ thống tuần hoàn, cácbon là nguyên tố ở vị trí thứ 6, nguyên tử lượng là 12, có cấu hình điện tử là 1s22s22p2. Do đó nguyên tử cácbon có bốn điện tử hóa trị. Năng lượng liên kết giữa các mức năng lượng cao 2p và mức năng lượng thấp 2s là rất nhỏ so với năng lượng liên kết của các liên kết hóa học [13].
Vì vậy các hàm sóng của bốn điện tử hóa trị có thể dễ dàng tự kết hợp hoặc kết hợp với các nguyên tử khác. Trạng thái ưu tiên cho sự sắp xếp các điện tử gọi là các trạng thái lai hóa. Cácbon có ba trạng thái lai hóa sp1, sp2, sp3 tồn tại trong các dạng vật chất khác nhau (hình 1. a) dạng thẳng b) dạng tam giác c) dạng tứ diện Hình 1.
Các trạng thái lai hóa khác nhau của nguyên tử cácbon a) sp1; b) sp2; c) sp3 [13] Trạng thái lai hóa sp1 thẳng hàng (hình 1.8a) được tạo thành như một chuỗi dây xích phẳng. Mỗi mắt xích là một nguyên tử cácbon. Dạng lai hóa này có thể được tạo ra trong tự nhiên nhưng khó tồn tại ở dạng rắn. Trạng thái lai hóa sp2 (hình 1.8b) là trạng thái liên kết phẳng, trong trạng thái lai hóa này có ba obital sp2 được tạo thành còn lại là một obital 2p.
Ba obital đồng phẳng tạo với nhau một góc 120o và tạo thành liên kết σ khi chồng chập với các nguyên tố cácbon bên cạnh. Obital p cũng tạo ra một liên kết π với các nguyên tử kế tiếp. Trạng thái lai hóa sp2 giữa các nguyên tử cácbon có thể tưởng 8 z tượng giống như một tấm cácbon đơn 2D phẳng. Trong đó, góc liên kết tạo bởi các nguyên tử cácbon là 120o trông giống như một mạng hình tổ ong.
Mạng này được gọi là tấm graphene. Trạng thái lai hóa sp3 (hình 1.