phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia thành ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng và các quy định về quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel. Chƣơng 2: Thực trạng ứng dụng các nguyên tắc của Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Tp. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao việc ứng dụng các nguyên tắc của Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Tp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ HƢỚNG PHÁT TRIỂN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: Hệ thống Ngân hàng Việt Nam còn non yếu, do đó trong xu thế hội nhập toàn cầu, ứng dụng Hiệp ước Basel trong quản trị rủi ro ngân hàng là cần thiết, đặc biệt là trong quản trị rủi ro tín dụng trong điều hành hoạt động ngân hàng hiện nay. Tuy chưa thể ứng dụng những nghiên cứu, những kết quả mà đề tài này mang lại vào thực tiễn hoạt động của cả hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, nhưng hy vọng dưới sự hướng dẫn của giảng viên, những ý kiến của chuyên gia, đề tài có thể được xem là nguồn tài liệu có ý nghĩa cho các nghiên cứu sâu hơn sau này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ HIỆP ƢỚC BASEL 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu của các NHTM tại Việt Nam.
Lợi nhuận mang lại từ hoạt động này là khá cao (chiếm từ 70 – 80% tổng nguồn thu của ngân hàng). Điều này cũng đồng nghĩa với việc rủi ro do hoạt động này mang lại cho ngân hàng cũng rất lớn và thường xuyên. Khái niệm rủi ro tín dụng Có nhiều cách tiếp cận khái niệm rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro do thất thoát tài sản có thể phát sinh khi bên đi vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với một ngân hàng. Hay, rủi ro tín dụng là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do bên đi vay không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng.
Hay hiện nay, theo khoản 1, điều 2, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Từ những khái niệm trên cho thấy rủi ro tín dụng còn có thể được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả, rủi ro sai hẹn. Đây là loại rủi ro có liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng Dựa vào nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng bao gồm: o Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. o Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.1 Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Nguồn: Quản trị ngân hàng, PGS.TS Trần Huy Hoàng, 2010 [3] Các hình thức của rủi ro tín dụng: không thu được lãi đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu được vốn đúng hạn và không thu đủ vốn. Đối với việc không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro tín dụng là thấp nhất.
Còn đối với việc không thu được vốn đúng hạn, lúc này ngân hàng sẽ có khoản nợ quá hạn phát sinh. Nếu khoản này ngân hàng không thể thu hồi được thì ngân hàng đang gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các hình thức của rủi ro tín dụng Nguồn: Quản trị ngân hàng, PGS.TS Trần Huy Hoàng, 2010 [3] 1. Đo lƣờng rủi ro tín dụng Hiện nay, có nhiều mô hình khác nhau được sử dụng để đánh giá và đo lường mức độ rủi ro tín dụng.
Mô hình chất lượng 6C: Tư cách người vay (Character): cán bộ tín dụng cần phải chắc chắn là người đi vay có mục đích tín dụng rõ ràng và mục đích vay phải phù hợp chính sách tín dụng hiện tại của ngân hàng; đồng thời phải xem xét khả năng thanh toán nợ trong quá khứ (nếu có) và tương lai thông qua nhiều nguồn thông tin khác nhau. Năng lực người vay (Capacity): các ngân hàng không chỉ quan tâm đến khả năng thanh toán nợ trong quá khứ hoặc tương lai của người vay mà cũng còn quan tâm đến năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của họ. Thu nhập của người vay (Cash): điều quan trọng là ngân hàng phải đánh giá được khả năng trả nợ của người vay thông qua nguồn trả nợ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Đối với cá nhân: khả năng trả nợ được đánh giá tuỳ thuộc vào các yếu tố như sức khỏe, năng lực, tuổi tác, nghề nghiệp… Đối với doanh nghiệp: khả năng trả nợ được dựa trên cơ sở lượng hàng bán ra, giá bán, giá thành, chi phí… Bảo đảm tiền vay (Collateral): đây được xem là một trong những tiêu chuẩn để ngân hàng cấp tín dụng và được xem là nguồn tài sản thứ hai có thể được dùng để trả nợ vay cho ngân hàng khi cần thiết.
Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính sách tín dụng của từng thời kỳ phù hợp với chính sách kinh tế quốc gia. Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của pháp luật có liên quan, quy chế hoạt động, yêu cầu tín dụng có đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngân hàng,… b. Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s: Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody’s và Standard&Poor’s là hai đại diện. Hai công ty này xếp hạng trái phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng (Moody’s cao nhất là Aaa, thấp nhất là C; Standard&Poor’s cao nhất là AAA, thấp nhất là C) theo chất lượng giảm dần, trong đó 4 hạng đầu ngân hàng nên đầu tư hay cho vay, còn các hạng còn lại không nên đầu tư hay cho vay.
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khoản cho vay hay việc đầu tư được xếp hạng thấp vẫn được ngân hàng xem xét do lợi nhuận từ việc cho vay hay đầu tư này mang lại là khá cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng: Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình này bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, sở hữu nhà, thu nhập,… Mô hình này thường sử dụng 7 – 12 hạng mục, mỗi hạng mục được cho điểm từ 1-10. Mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng: Mô hình này đánh giá rủi ro tín dụng dựa theo các yếu tố thị trường và phân tích “mức thưởng chấp nhận rủi ro” gắn liền với mức sinh lời của các khoản cho vay đối với những khách hàng có cùng mức độ rủi ro.
Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng 1. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng A. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay Năng lực tài chính của khách hàng vay yếu, năng lực điều hành kém, hoạt động kinh doanh không hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ hoặc khách hàng vay thiếu thiện chí trả nợ… B. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Cán bộ ngân hàng không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và các điều kiện cho vay.
Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện vay và khả năng trả nợ. Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn rất yếu. Hoặc khi quyết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 định cho vay nhưng công tác kiểm tra sau cho vay còn lỏng lẻo, dẫn đến việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích. Thiếu thông tin khách hàng để làm cơ sở trước khi quyết định cho vay.
Năng lực và phẩm chất của một số cán bộ tín dụng chưa cao. Chế độ đãi ngộ nhân viên của ngân hàng chưa thích hợp.