PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo cam kết WTO trong lĩnh vực Ngân hàng, kể từ 1/4/2007 các Ngân hàng các tổ chức nước ngoài sẽ được phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam đồng thời các Ngân hàng nước ngoài được phép cung cấp hầu hết các hoạt động dịch vụ ngân hàng và góp vốn liên doanh, mua cổ phần của các NHTM VN; Tính đến tháng 6/2011, Việt Nam có 05 Ngân hàng thương mại nhà nước, 01 ngân hàng chính sách xã hội, 37 Ngân hàng thương mại cổ phần, 05 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 05 Ngân hàng liên doanh và 36 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Điều này cho thấy áp lực cạnh tranh của các NH TMCP Việt Nam tại thị trường nội địa là rất lớn. Ngòai ra, các Ngân hàng Việt Nam hiện đang có xu hướng mở rộng hoạt động ra khu vực Đông Nam Á và các nước trên thế giới.
Do đó, đòi hỏi các Ngân hàng Việt Nam phải nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ cũng như năng lực quản trị rủi ro để có thể tăng cường năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Ngoài ra, bài học rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 và ảnh hưởng đến ngày hôm nay đã cho thấy tầm quan trọng và tác động dây truyền của sự khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ sự sụp đổ của một số Ngân hàng sẽ kéo theo sự khủng hoảng nhanh chóng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ; dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài đến tận hôm nay nhưng vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục. Điều này cho thấy, ngay cả những nền Kinh tế ―khổng lồ‖ như Mỹ, Nhật Bản hay các nước Châu Âu vẫn tồn tại nhiều điểm yếu trong công tác quản trị rủi ro và ngăn ngừa rủi ro hệ thống lan truyền trong phạm vi rộng, toàn thế giới, đặc biệt là trong lĩnh vực cực kỳ nhậy cảm là Tài chính ngân hàng. Việt Nam, với nền kinh tế đang phát triển và hệ thống tài chính chưa tinh vi, chưa có sự kết nối mạnh mẽ với các nền kinh tế hùng mạnh trên thế giới nên chúng ta không bị ảnh hưởng nặng nề từ làn sóng khủng hoảng tài chính vừa qua.
Tuy nhiên, với xu thế hội nhập và tự do hóa hoạt động ngân hàng, việc ứng dụng các chuẩn mực và quy định quốc tế về quản trị rủi ro vào hệ thống Ngân hàng Việt Nam là điều tất yếu, nhằm từng bước nâng cao năng lực quản lý cũng như khả năng ứng phó kịp thời với các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Ứng dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tại ACB LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 2 Một trong những quy định đang được áp dụng phổ biến tại rất nhiều các quốc gia trên Thế giới trong việc quản trị rủi ro các Ngân hàng đó là Hiệp ước về an toàn vốn, hay còn được gọi là các Hiệp ước Basel (bao gồm: Hiệp ước Basel I, II và III). Với quan điểm chính là: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính trong cả nội bộ quốc gia đó và trên toàn thế giới; Việc nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức trên thế giới đặc biệt quan tâm. Tại Việt Nam hiện chỉ dừng lại ở việc ứng dụng một số tiêu chí đơn giản của Hiệp ước Basel I, do đó bài nghiên cứu “Ứng dụng Hiệp ƣớc Basel II trong Quản trị rủi ro tại Ngân hàng Á Châu” này nhằm tìm ra những nguyên nhân và khó khăn trong việc ứng dụng Basel II để từ đó đưa ra một số giải pháp ứng dụng Basel II nhằm nâng cao khả năng quản trị rủi ro của Ngân hàng Á Châu nói riêng và Hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung.
Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nội dung của Hiệp ước Basel I, II và những sửa đổi bổ sung của Hiệp ước Basel III so với Basel II; kinh nghiệm ứng dụng Basel II của các quốc gia trên thế giới; Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống quản trị rủi ro hiện tại của Ngân hàng Á Châu, từ đó đưa ra những thuận lợi – khó khăn của Ngân hàng Á Châu khi ứng dụng hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro của Ngân hàng. Đưa ra một số giải pháp để ứng dụng Basel II vào hệ thống quản trị rủi ro của Ngân hàng Á Châu, đồng thời xem xét khả năng ứng dụng Basel III trong tương lai. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Hiệp ước an toàn vốn quốc tế (Hiệp ước Basel I, II & III) và Hệ thống quản lý rủi ro tại Ngân hàng Á Châu. Phạm vi nghiên cứu: Hiệp ước Basel II được đánh giá là rất phức tạp với rất nhiều quy tắc và chuẩn mực liên quan đến an toàn vốn, quy trình giám sát và các quy tắc thị trường của các Ngân hàng, bao gồm các Ngân hàng đa quốc gia; tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ xin tập trung nghiên cứu quy định liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn nhằm giúp cho Ngân hàng đối phó với các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro vận Ứng dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tại ACB LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 3 hành; các nội dung về quy trình giám sát và quy tắc thị trường trong Basel II & III đề tài chỉ dừng lại ở việc trình bày nội dung, xin được để lại cho các nghiên cứu sâu hơn sau này.
Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp lý thuyết suy luận logic, phân tích - tổng hợp; so sánh – đối chiếu. Đối với các số liệu chi tiết của các Ngân hàng Việt Nam, do hạn chế về việc công bố thông tin nên chỉ có thể dựa vào thông tin cung cấp từ một số ngân hàng theo phương pháp điều tra chọn mẫu đại diện cho nhóm Ngân hàng thương mại cổ phần và Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra, đề tài cũng thực hiện cuộc khảo sát về thực trạng ứng dụng Basel II tại các Ngân hàng thương mại thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia trong lĩnh vực Ngân hàng, bao gồm Trưởng/phó phòng tín dụng và các chuyên viên, nhằm hạn chế các ý kiến chủ quan của tác giả về vấn đề nghiên cứu. Hỗ trợ cho bài nghiên cứu là hệ thống cơ sở dữ liệu thứ cấp được sử dụng có chọn lọc, thu thập tại các Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên của các Ngân hàng, các tạp chí chuyên ngành có uy tín như Tạp chí tài chính, Tạp chí ngân hàng, Thời báo kinh tế Sài Gòn, một số website của Ngân hàng Nhà nước… là nguồn dữ liệu thứ cấp để đối chiếu và so sánh với dữ liệu chính thức đưa vào đề tài.
Các nghiên cứu liên quan trƣớc đó ―Ứng dụng hiệp ước an toàn vốn Basel trong quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam‖, Nguyễn Thị Thùy Linh, 2006; ―Những chuẩn mực và thông lệ quốc tế về quản lý hoạt động tín dụng ngân hàng thương mại‖, Trần Đình Định, 2007; ―Ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro ngân hàng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam‖, 2010; ―Ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam‖, 2010. Ứng dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tại ACB LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƢỚC QUỐC TẾ VỀ AN TOÀN VỐN & GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG (HIỆP ƢỚC BASEL) 1. Sơ lƣợc các nghiên cứu về QTRR của các NHTM trên thế giới. Bắt đầu từ thập kỷ 70, dự báo rủi ro tài chính đã trở thành một hướng phát triển mạnh mẽ của mô hình hóa thống kê xác suất.
Khi nhắc tới rủi ro tài chính gần như ngay lập tức người ta liên tưởng tới hoạt động quản lý danh mục đầu tư, định giá quyền chọn và các công cụ tài chính khác. Công thức định giá quyền chọn Black-Scholes (năm 1973), bài viết về định giá trái phiếu công ty của Merton (năm 1974),… là những khái niệm quen thuộc. Mặc dù không hề kém quan trọng, đặc biệt trong thực tiễn kinh doanh tài chính, các ứng dụng dự báo rủi ro tài chính với các khoản vay thể nhân, tính điểm tín dụng và hành vi, dường như chưa nhận được sự quan tâm đúng mức tại thời kỳ đó. Lý thuyết về lĩnh vực này tương đối hạn chế với số lượng ít ỏi công trình đánh giá tổng quan như khảo sát các phương pháp định lượng trong quản lý tín dụng của Rosenberg và Gleit (năm 1994); các phương pháp phân loại thống kê tín dụng thể nhân của Hand và Henley (năm 1997); các công trình của Thomas (năm 1992) về mô hình quản lý rủi ro tài chính, các phương pháp phân loại tín dụng thể nhân, tổng quan về các phương pháp tính điểm tín dụng và hành vi….
Lý thuyết về tính điểm tín dụng của Hand và Henley1 (năm 1997): Lý thuyết về tính điểm tín dụng được Hand và Henley xây dựng và ghi nhận hai thành tựu quan trọng: nhu cầu phát triển các kỹ thuật dự báo rủi ro của khách hàng tương thích với biến động điều kiện kinh tế; và mục đích tính điểm chuyển từ việc xác định các khách hàng khả năng vỡ nợ cao sang tìm kiếm các khách hàng có khả năng tạo ra lợi nhuận tốt nhất. Chất xúc tác quan trọng cho các phát triển này chính là sự bùng nổ về thông tin của giao dịch khách hàng. Hai kỹ thuật đánh giá cơ bản hỗ trợ tổ chức tín dụng ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng là tính điểm tín dụng và tính điểm hành vi: Để ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng giao dịch lần đầu tiên, tổ chức tín dụng sử dụng kỹ thuật tính điểm tín dụng. Để ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng hiện hữu (có tăng hạn mức tín dụng không? Áp 1 Hand D.
(1997) Statistical classification methods in consumer credit scoring: a review. Journal of the Royal Statistical Society, Series A, 160, 523-541. Ứng dụng Hiệp ước Basel II trong quản trị rủi ro tại ACB LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 5 dụng chính sách khách hàng như thế nào? các ưu đãi nếu có? nếu khách hàng không trả nợ đúng hẹn thì xử lý ra sao?) dựa trên kỹ thuật tính điểm hành vi của khách hàng.