Chương 1: Tổng quan và các khái niệm, hoạt động cơ bản của công nghệ chuyển mạch nhãn MPLS. Công nghệ chuyển mạch nhãn mới - APLS Chương 2: Một số ứng dụng của MPLS như: ứng dụng điều khiển lưu lượng MPLS, ứng dụng về chất lượng dịch vụ QoS trong MPLS, khôi phục đường với MPLS, và ứng dụng MPLS trong mạng riêng ảo Chương 3: Cung cấp Dịch vụ mạng riêng ảo tại Bưu điện Hà Nội – tình hình triển khai, khó khăn và hướng giải quyết Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi đã được sự hỗ trợ, khuyến khích và động viên của rất nhiều người, đó là gia đình tôi, các thầy cô, bạn học và đồng nghiệp. Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy PGS. Nguyễn Viết Kính, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này.
Thầy cũng là người có nhiều ý kiến chân thành và quý báu trong quá trình tiếp cận và giải quyết vấn đề. Gia đình tôi, bố mẹ và các anh chị, đã luôn khuyến khích, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn này. Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các thầy cô tại Khoa Công Nghệ - ĐHQG Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi kiến thức trong suốt bốn năm học Đại học và hai năm học Cao học. Và tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn học và z đồng nghiệp, đã khuyến khích, động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành tốt công việc.
z 1 CHƢƠNG 1 CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC - MPLS Trong mạng Internet truyền thống, phương thức vận chuyển các gói đều dựa vào địa chỉ IP đích, các router dựa vào địa chỉ IP có trong phần mào đầu của gói tin và dựa vào bảng thông tin định tuyến có trên mỗi router và chuyển tiếp gói dữ liệu dựa vào các thông tin này. Nhưng đối với chuyển mạch nhãn thì hoàn toàn khác, nó thực hiện bằng việc gán nhãn (một hoặc một số nhãn) cho một gói tin. Và nhãn này không phải là địa chỉ nên nó không liên quan đến cấu trúc mạng (network topology) như phương pháp dùng địa chỉ IP, và khi ta chưa liên kết nhãn với một địa chỉ IP thì thông tin về đường đi của nhãn sẽ chưa có ý nghĩa. Như vậy mạng chuyển mạch nhãn cần phải liên kết nhãn với địa chỉ đích của gói tin, và các nút mạng sẽ dựa vào giá trị trong nhãn đó để vận chuyển gói tin đến đích.
GIỚI THIỆU VỀ CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC MPLS 1. Chuyển mạch nhãn là gì? Khái niệm chuyển mạch nhãn rất đơn giản. Giả sử có một lưu lượng của người sử dụng (ví dụ: một đoạn tin email) được chuyển từ máy tính của người sử dụng đó đến máy tính của người nhận. Trong mạng internet không sử dụng chuyển mạch nhãn, phương pháp để chuyển email này tương tự như trong hệ thống thư tín của bưu điện: tức là một địa chỉ đích được xem xét bởi các thực thể chuyển thư như đối với internet là các bộ định tuyến (Router) còn đối với hệ thống thư tín là nguời xử lý thư (mail handler).
Địa chỉ này quyết định việc bộ định tuyến hoặc người xử lý thư chuyển gói dữ liệu hoặc phong bì chứa thư tới người nhận cuối cùng như thế nào. Postal Network Joe Joe Joe 188 Anystreet 188 Anystreet 188 Anystreet Anywhere, 88888 Anywhere, 88888 Anywhere, 88888 z 2 Hình 1.1:Mã Zip trong mạng bƣu chính. The Internet Destination IP=191.1 Label=88888 Label= 88888 Label=88888 Hình 1.2: Mã Zip và nhãn. Chuyển mạch nhãn thì khác, thay vì địa chỉ đích được sử dụng để đưa ra quyết định định tuyến thì một nhãn được gắn với gói tin đó.
Trong hệ thống thư tín, một giá trị nhãn được đặt lên phong bì thư và sau đó được sử dụng thay cho địa chỉ thư tín để gửi thư tới người nhận. Trong các mạng máy tính, một nhãn được đặt trong mào đầu của gói tin và được sử dụng thay cho địa chỉ IP để định tuyến lưu lượng tới địa chỉ đích của gói tin.1, một bức thư được chuyển đi thông qua hệ thống thư tín từ người gửi tới người nhận. Địa chỉ thực tế của người nhận không được sử dụng trong mạng thư tín để chuyển bức thư này. Thay vào đó một mã ZIP 88888 được sử dụng như một nhãn để xác định nơi mà bức thư này sẽ tới.
Sau khi bức thư này đến vùng ZIP đích (cuối của con đường thư tín) thì địa chỉ thực tế của thư (số nhà, phố,…) mới được sử dụng để chuyển thư này tới người nhận cuối cùng. Chuyển mạch nhãn chính là sử dụng ý tưởng này.2, một gói tin IP được gửi tới một bộ định tuyến chuyển mạch nhãn để chuyển tới một địa chỉ IP đích. Bộ định tuyến gắn thêm một nhãn vào gói tin (giống như mã ZIP). Sau đó nhãn này chứ không phải địa chỉ IP được sử dụng trong mạng để chuyển lưu lượng đi.
Khi lưu lượng này đến cuối con đường nhãn thì địa chỉ IP được sử dụng để chuyển bức thư này tới người sử dụng cuối cùng. "Công nghệ lớp 2,5" là một cụm từ khác thường được dùng để mô tả MPLS là gì.3 chỉ ra MPLS thường được minh hoạ như một lớp chèn thêm mới đặt vào giữa lớp mạng và lớp liên kết dữ liệu.3: MPLS "Shim Layer". MPLS không phải là một lớp nhưng nó liên kết mặt phẳng điều khiển tại đáy của lớp mạng với mặt phẳng chuyển dữ liệu tại đỉnh của lớp liên kết dữ liệu. MPLS không phải là một giao thức lớp mạng mới bởi vì nó không có các mẫu địa chỉ và các khả năng định tuyến của riêng nó, mà các mẫu địa chỉ và khả năng định tuyến là các đòi hỏi cho một giao thức lớp 3.
MPLS sử dụng địa chỉ IP và các giao thức định tuyến IP (với sự mở rộng và sửa đổi cần thiết). MPLS cũng không phải là một giao thức lớp liên kết dữ liệu mới bởi vì nó được thiết kế để làm việc với rất nhiều các công nghệ liên kết dữ liệu phổ biến, cung cấp các chức năng và địa chỉ lớp 2 cần thiết. Tóm lại, Chuyển mạch nhãn đa giao thức là một công nghệ lai ghép tiên tiến, kết hợp ưu điểm định tuyến đơn giản của lớp 3 và ưu điểm tốc độ chuyển mạch cao của lớp 2 để chuyển các gói tin từ nguồn tới đích nhờ sử dụng các nhãn. Tại sao lại sử dụng chuyển mạch nhãn ? Sau đây sẽ đề cập đến một số chủ đề cũng là lý do mà chuyển mạch nhãn được quan tâm trong những năm gần đây.
Tốc độ và trễ. Việc chuyển gói tin trên cơ sở IP truyền thống quá chậm để xử lý tải lưu lượng lớn trên Internet. Ngay cả khi các kỹ thuật nâng cao được phát triển như kỹ thuật tra cứu bảng nhanh thì tải trên các bộ định tuyến vẫn lớn hơn nhiều so với khả z 4 năng xử lý của nó. Kết quả là lưu lượng và các kết nối bị mất, chất lượng trên toàn mạng giảm sút.
Ngược lại với phương thức chuyển gói tin của IP, chuyển mạch nhãn đưa ra một giải pháp hết sức hiệu quả cho vấn đề này. Chuyển mạch nhãn nhanh hơn nhiều bởi vì giá trị nhãn được đặt vào mào đầu gói tin được sử dụng để truy nhập vào bảng định tuyến tại các bộ định tuyến. Có nghĩa là nhãn được sử dụng như một chỉ mục hay con trỏ trỏ vào bảng định tuyến. Việc tra cứu này chỉ cần một lần truy nhập vào bảng định tuyến.
Điều này ngược hoàn toàn so với việc truy nhập bảng định tuyến truyền thống có khi yêu cầu đến vài nghìn lần tra cứu. Kết quả của hoạt động tra cứu bảng định tuyến này là lưu lượng của người sử dụng được truyền đi trong mạng nhanh hơn, giảm thời gian trễ và thời gian đáp ứng cho một lần giao dịch giữa những người sử dụng. Biến đổi trễ (Jitter). Trong các mạng máy tính ngoài tham số tốc độ và trễ còn có một tham số khác đó là sự biến đổi trễ của lưu lượng người sử dụng sinh ra khi gói đi qua các node trong mạng để tới đích.
Biến đổi trễ này được tích luỹ trong suốt quá trình gói tin được truyền từ bên gửi tới bên nhận. Tại mỗi node, địa chỉ đích trong gói tin được xem xét và so sánh với một danh sách các địa chỉ đích trong bảng định tuyến của node. Khi đi qua các node này, gói tin nhận một lượng trễ và biến đổi trễ phụ thuộc vào thời gian tra cứu bảng định tuyến và số lượng gói phải xử lý trong một khoảng thời gian cho trước. Kết quả là (Jitter) sinh ra trượt tại node thu.
Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với các gói tin thoại. Người nghe cứ phải đợi vài giây để nhận được một vài từ trong một câu. Trong mạng chuyển mạch nhãn, lưu lượng người sử dụng được truyền thông qua mạng rất nhanh do vậy độ trượt (biến đổi trễ) rất thấp hơn so với mạng IP truyền thống. Khả năng mở rộng.
Tốc độ là một khía cạnh quan trọng của chuyển mạch nhãn và việc xử lý nhanh lưu lượng người sử dụng trong Internet là cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên z 5 chuyển mạch nhãn không chỉ cung cấp dịch vụ nhanh. Nó còn cung cấp khả năng mở rộng. Khả năng mở rộng liên quan đến có khả năng hoặc không có khả năng của một hệ thống (ví dụ trong mạng Internet) đáp ứng được số lượng người sử dụng lớn và tăng trưởng nhanh.
Mỗi ngày có hàng nghìn người sử dụng Internet mới. Hãy tưởng tượng xem một bộ định tuyến phải gánh vác tất cả những người sử dụng này. Chuyển mạch nhãn cung cấp các giải pháp cho vấn đề tăng trưởng nhanh này và các mạng cỡ lớn bằng cách cho phép một số lượng lớn địa chỉ IP kết hợp với một hoặc một vài nhãn. Giải pháp này giảm kích cỡ của các bảng định tuyến và cho phép các bộ định tuyến hỗ trợ nhiều người sử dụng hơn.
Một khía cạnh hấp dẫn khác của chuyển mạch nhãn là giao thức chuyển gói tin. Nó rất đơn giản, việc chuyển một gói tin chỉ dựa trên nhãn của nó. Tuy nhiên, nhãn đó được tìm ra như thế nào thì lại là một vấn đề khác. Có nghĩa là các cơ chế điều khiển được sử dụng để kết hợp nhãn với lưu lượng của một người sử dụng nhất định thì không liên quan gì đến việc chuyển lưu lượng thực tế.
Những cơ chế điều khiển này khá phức tạp, nhưng chúng không ảnh hưởng đến hiệu quả của dòng lưu lượng người sử dụng.