CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan các nghiên cứu về dạy học hướng tới bồi dưỡng năng lực số 1. Các nghiên cứu trên thế giới Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin trên thế giới, việc bồi dưỡng NLS cho người học cũng được quan tâm bồi dưỡng từ sớm. Tại Châu Âu, từ năm 2005, Trung tâm Nghiên cứu Chung (JRC) thuộc Ủy ban Châu Âu đã bắt đầu nghiên cứu về học tập và các kỹ năng cho kỷ nguyên số.
Mục tiêu của các nghiên cứu này là hỗ trợ, làm chính sách dựa trên bằng chứng nhằm thúc đẩy tiềm năng của các công nghệ số để khuyến khích đổi mới sáng tạo trong thực hành giáo dục và đào tạo, truyền đạt các kỹ năng và năng lực số mới cần thiết cho mọi người dân để họ có thể tăng cơ hội việc làm, phát triển cá nhân và hòa nhập xã hội. Năm 2017, Ủy ban Châu Âu đã xuất bản cuốn “DigComp 2.1 the digital competence framework for citizens with eight proficiency levels and examples of use”, cung cấp một mô hình toàn diện về các năng lực số cần thiết cho công dân trong thế kỷ 21 và các ví dụ về cách thức và mức độ mà các năng lực này có thể được sử dụng trong các tình huống thực tế. Đến năm 2018, 2019, các tổ chức như UNESCO, UNICEF đã có các nghiên cứu sâu hơn về khái niệm năng lực số, khung năng lực số cho giáo viên và học sinh, góp phần phát triển năng lực số cho thời đại công nghệ số hiện nay. Dự án hợp tác của Văn phòng Nghiên cứu UNICEF - Innocenti, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE) và mạng EU Kids Online (UNICEF, 2019) - nghiên cứu quốc tế “Global Kids Online” tạo ra và duy trì một cơ sở chứng cứ về việc trẻ em sử dụng Internet bằng cách tạo ra một mạng lưới toàn cầu gồm các nhà nghiên cứu và chuyên gia.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng, phát triển năng lực số. Các nghiên cứu ở Việt Nam Từ khi bùng nổ đại dịch covid năm 2020, công việc dạy học trực tiếp bị gián đoạn, vấn đề năng lực số, công nghệ số và chuyển đổi số trong giáo dục được quan tâm nhiều hơn. Để đáp ứng nhu cầu này, tháng 7 năm 2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Đại học công nghệ Swinburne (Úc) và mạng lưới Olympia Global Network đã tổ chức hội nghị tập huấn “Giáo dục và công nghệ trong thế kỷ 21” theo hình thức trực tuyến. Hội nghị thu hút sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, vụ, viện, trường đại học và các thầy cô giáo.
Năm 2021, nhóm nghiên cứu của Lê Anh Vinh đã “Xây dựng khung năng lực số cho học sinh phổ thông Việt Nam” [8] và đến năm 2023, Lê Anh Vinh cùng các cộng sự đã chỉ ra rằng, “ChatGPT có khả năng thực hiện các bài kiểm tra ở mức độ nhất định nhưng chất lượng câu trả lời không ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nghiên cứu cung cấp một góc nhìn chi tiết về khả năng của ChatGPT trong kiểm tra, đánh giá, giúp các nhà quản lí giáo dục, giáo viên, học sinh… có cơ sở để đưa ra các phương án sử dụng công cụ này một cách phù hợp và hiệu quả.” [9] Có thể thấy, vấn đề phát triển năng lực số cho học sinh THPT tại Việt Nam trong thời đại mới còn chưa có nhiều đề tài nghiên cứu mà mà chỉ có một số nghiên cứu về phát triển năng lực số cho các doanh nghiệp, sinh viên các trường đại học, cao đẳng. Cơ sở lí luận về năng lực số 1. Khái niệm năng lực Năng lực (NL) là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau, một số ví dụ như: Theo từ điển tiếng Việt, “Năng lực làgkhả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiêngsẵn có để thực hiện mộtghành động nào đó”.
[4] Trên góc độ tâm lí học, năng lực là khả năng của một cá nhân thực hiện một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Năng lực bao gồm cả kiến thức, kỹ năng, kinh 9 nghiệm và thái độ cần thiết để thực hiện hoạt động đó; nó không phải là một đặc điểm cố định, mà có thể được phát triển và nâng cao thông qua học tập, rèn luyện và trải nghiệm thực tiễn. Theo Chương trình giáo dục Quebec (Quebec Education Programme) thì NL được định nghĩa là tổ hợp các hành động trên cơ sở sử dụng và huy động một cách hiệu quả kiến thức và kỹ năng đến từ nhiều nguồn khác nhau, nhằm giải quyết thành công những thách thức xuất hiện trong cuộc sống hoặc thể hiện sự ứng xử phù hợp trong các tình huống thực tế [16]. Như vậy, có nhiều các quan điểm khác nhau về NL, trong khuôn khổ luận văn này, khái niệm NL được hiểu như sau: “NL là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng với thái độ phù hợp để thực hiện một loại hoạt động nhất định đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.
Phân loại năng lực Tùy thuộc vào quan điểm tiếp cận mà đưa ra các tiêu chí khác nhau, từ đó xuất hiện nhiều loại NL khác nhau. Tìm hiểu chương trình giáo dục ở nhiều nước trên thế giới thì thấy phổ biến nhất là cách phân loại NL thành NL chung và NL riêng (còn gọi là NL chuyên biệt). - Năng lực chung là những NL cơ bản, cần thiết cho mọi hoạt động của con người, chẳng hạn như năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề,. Những năng lực này được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhiều môn học và có liên quan đến nhiều môn học khác nhau.
Do đó, năng lực chung được hình thành xuyên suốt trong chương trình giáo dục. - Năng lực riêng là những NL cần thiết cho một lĩnh vực hoạt động cụ thể, nó được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó. Khái niệm năng lực số Khái niệm “năng lực số” (NLS) lần đầu tiên được đề cập vào năm 1997 bởi học giả Gilster, là khả năng hiểu và sử dụng thông tin dưới nhiều định dạng khác nhau từ nhiều nguồn khác nhau, được hiển thị qua máy tính. 10 Năm 2006, Ủy ban và Nghị viện Châu Âu cho rằng: “NLS là một trong những NL cơ bản toàn diện [10], trong đó NL này được định nghĩa: “NLS liên quan đến việc sử dụng công nghệ số một cách tự tin và có tư duy phản biện phục vụ cho học tập, giải trí, công tác và giao tiếp.
NL số gồm những kĩ năng cơ bản về CNTT như: Sử dụng máy tính để tìm kiếm, tiếp cận, đánh giá, lưu trữ, tạo ra sản phẩm, trình bày và trao đổi thông tin cũng như giao tiếp và tham gia vào các mạng lưới hợp tác thông qua internet”.Jane Secker [Secker, 2018], năng lực số là khả năng sử dụng công nghệ số để tạo ra, chia sẻ và sử dụng thông tin một cách sáng tạo và hiệu quả. Theo Killen (2018), năng lực số là khả năng sử dụng công nghệ số một cách hiệu quả và an toàn trong các lĩnh vực học tập, làm việc, giao tiếp và giải trí. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc – UNESCO (2018) định nghĩa năng lực số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số để phục vụ cho các công việc từ đơn giản đến phức tạp cũng như khởi nghiệp. Năng lực số là tổng hợp của năng lực sử dụng máy tính, năng lực công nghệ thông tin, năng lực thông tin và năng lực truyền thông [13].
Dự án DKAP do UNESCO Bangkok khởi sướng định nghĩa: “NL số là khả năng sử dụng kĩ thuật số của trẻ em để định hướng (tự điều chỉnh), tham gia và đóng góp vào môi trường kĩ thuật số trong thế kỉ XXI” [14]. Tổng quan thấy rằng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực số, không có một định nghĩa thống nhất, bởi nó bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau. Việc chọn định nghĩa phù hợp phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận của nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, nhìn chung, NLS có thể được hiểu là việc sử dụng công nghệ mới để truy xuất, xử lý thông tin, truyền thông và tạo ra nội dung số.
Cấu trúc của khung năng lực số Năm 2017 cùng với sự hỗ trợ của Ủy ban Châu Âu, dự án nghiên cứu chiến lược thúc đẩy sáng kiến về NLS cho cộng đồng Châu Âu của JRC đã đề xuất Khung 11 NLS cho công dân, được gọi tắt là “DigComp 2.0” gồm 5 lĩnh vực chính và 21 năng lực[8]: Bảng 1. Khung năng lực số của Châu Âu Lĩnh vực NL NL thành phần 1. NL xử lí thông 1. Duyệt, tìm kiếm và lọc dữ liệu, thông tin và nội dung kĩ tin và dữ liệu thuật số.
Đánh giá dữ liệu, thông tin và nội dung số. Quản lí dữ liệu, thông tin và nội dung số 2. Thành thạo thông 2. Tương tác thông qua công nghệ kĩ thuật số.
tin và dữ liệu 2. Chia sẻ thông qua các công nghệ kĩ thuật số. Tham gia vào quyền công dân thông qua công nghệ kĩ thuật số. Hợp tác thông qua công nghệ kĩ thuật số.
Hiểu biết và tuân thủ các nghi thức xã giao. Sáng tạo nội 3. Phát triển nội dung số. Tích hợp và xây dựng lại nội dung kĩ thuật số.
Bản quyền và giấy phép. Lập trình. Bảo vệ thiết bị. Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư.
Bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc. Bảo vệ môi trường. Giải quyết vấn đề 5. Giải quyết các vấn đề kĩ thuật.
Xác định nhu cầu và đáp ứng công nghệ. Sử dụng sáng tạo các công nghệ kĩ thuật số. Nhận dạng kĩ thuật số. Năm 2018 trung tâm Nghiên cứu về Thông tin và NL Máy tính Quốc tế (The International Computer Literacy and Information Study - ICILS) điều chỉnh khung NLS năm 2013 từ bảy khía cạnh trong hai nhóm “thu thập và quản lí thông tin” và “Tạo ra và trao đổi thông tin” thành tám khía cạnh tổ chức thành 4 phần [11]: - Hiểu việc sử dụng máy tính (nền tảng của việc sử dụng máy tính và các quy ước sử dụng máy tính).
- Thu thập thông tin (các khía cạnh: truy cập, đánh giá và quản lí thông tin) - Tạo ra thông tin (chuyển đổi và tạo ra thông tin) - Giao tiếp số (chia sẻ thông tin và sử dụng thông tin một cách có trách nhiệm và an toàn).