Đặt vấn đề Vấn đề vi phạm bản quyền tác giả là một vấn đề phức tạp và được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Trên thế giới một loạt các công ước, thoả thuận, hiệp định quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ ra đời như: công ước Berne - Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ, công ước liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh, thoả thuận về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, hiệp ước của WIPO về Quyền tác giả (WCT), … 18]. Các tổ chức quốc tế về quyền tác giả cũng lần lượt ra đời như: tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), hiệp hội Công nghiệp ghi âm Quốc tế, hiệp hội các Nhà soạn nhạc và Soạn lời Quốc tế, hiệp hội Quản lý các tác phẩm nghe nhìn Quốc tế, liên hiệp quốc tế các tổ chức quyền sao chép, … Trong đó tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) là một trong số 16 cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới. WIPO thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, quản lý nhiều liên hiệp và các tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các hiệp định đa phương và tạo ra các luật mẫu để các nước đang phát triển thông qua 18].
Việt Nam đang từng bước hội nhập nền kinh tế thế giới. Bên cạnh những hợp tác phát triển kinh tế – xã hội, Việt Nam còn phải tham gia những công ước, những hiệp định về bảo hộ tác quyền như: hiệp định Việt – Mỹ về Quyền tác giả, hiệp định về bảo hộ sở hữu trí tuệ Việt Nam – Thụy Sĩ, công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật, … Chính phủ Việt Nam cũng ký kết một số bản ghi nhớ quan trọng liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ và quyền tác giả như: bản ghi nhớ giữa Cục sở hữu trí tuệ vương quốc Thái Lan và Cục bản quyền tác giả Việt Nam về hợp tác trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền kề cận, bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực 8 quyền tác giả và quyền kề kận giữa Cục bản quyền tác giả nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cục bản quyền quốc gia nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, bản ghi nhớ giữa Cục Sở hữu trí tuệ Vương quốc Thái Lan Và Các cơ quan liên quan của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Về hợp tác thúc đẩy và bảo hộ sở hữu trí tuệ 18]. Quốc hội Việt Nam cũng đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ. Đối tượng áp dụng luật sở hữu trí tuệ là đối tượng quyền tác giả, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp và đối tượng quyền đối với giống cây trồng.
Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm khoa học; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống [19]. Luật sở hữu trí tuệ đưa ra một loạt các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như: nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả, thủ tục đăng ký chứng nhận quyền các giả, lệ phí về sở hữu trí tuệ, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giám định về sở hữu trí tuệ, xử lý vi phạm, … Trong quá trình thực hiện quyền sở hữu trí tuệ, công việc giám định về sở hữu trí tuệ là công việc khó khăn.
Giám định bản quyền đòi hỏi phải sử dụng các kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến vụ việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ [19]. Tùy thuộc vào đối tượng cần giám định cụ thế như: tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, bản ghi âm, ghi hình, kiểu dáng công nghiệp, … mà sử dụng các kỹ thuật giám định phù hợp. Một số bộ luật về bản quyền trên thế giới (bao gồm Mỹ) yêu cầu chủ sở hữu ký thông tin bản quyền (affix a copyright notice) vào mỗi bản sao sản phẩm để đảm bảo bản quyền được duy trì [2]. Ngoài vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giám định chủ sở hữu được quan tâm nhiều, trên thực tế vấn đề giả mạo giấy tờ cũng rất nóng bỏng.
Giấy tờ giả mạo 9 tồn tại ở nhiều dạng như: giả mạo công văn, giả mạo chỉ thị, giả mạo bằng cấp, giả mạo giấy tờ tuỳ thân, … Giấy tờ giả có thể xảy ra trong bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Tuỳ theo mức độ quan trọng của tài liệu giả mạo, mức độ nghiêm trọng của sự việc sẽ có độ nghiêm trọng khác nhau. Để xử lý việc sử dụng giấy tờ giả mạo, công việc đầu tiên là phải phát hiện ra tài liệu giả mạo. Vấn đề đặt ra là xây đựng một phương pháp nhúng thông tin bí mật vào các tài liệu tiếng Việt.
Thông tin bí mật sẽ làm cơ sở cho việc giám định thông tin bản quyền sở hữu và phát hiện ra tài liệu có giả mạo hay không. Các tài liệu Tiếng việt có thể bị sử dụng trái phép, bị giả mạo toàn bộ hoặc một phần. Do đó thông tin bí mật cần được nhúng vào từng mục, từng chương và toàn bộ tài liệu. Phương pháp nhúng thông tin bản quyền xây dựng sẽ được áp dụng thử nghiệm trên các tài liệu luận văn tốt nghiệp tại Khoa Công Nghệ Thông Tin Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh.2 Hướng giải quyết vấn đề Digital watermaking là kỹ thuật cho phép nhúng thông tin vào sản phẩm nhằm khẳng định bản quyền sở hữu.
Kỹ thuật digital watermarking được chấp nhận rộng rãi vào những năm 1990 và phát triển mạnh mẽ từ năm 1995 đến nay [1]. Các sản phẩm có thể ứng dụng kỹ thuật digital watermaking bao gồm: hình ảnh (images), phim (video), âm thanh (audio), văn bản (text),. Watermarking trên dữ liệu văn bản cung cấp khả năng theo dõi (tracing documents) các tài liệu bị sao chép, phân phối trái phép hoặc tài liệu bị sửa đổi, giả mạo [7]. Đặc điểm của tiếng Việt có sử dụng các ký tự latinh và các dấu thanh như: thanh ngang, thanh sắc, thanh huyền, thanh hỏi, thanh ngã và thanh nặng.
Một số ký tự nguyên âm của tiếng Việt có sử dụng thêm dấu mũ (như â, ê, ô) và dấu “ă” (như ă). Gọi chung các dấu thanh và các dấu trên một số ký tự nguyên âm là dấu tiếng Việt. Nếu dịch chuyển các dấu tiếng Việt một khoảng cách nhỏ lên hoặc xuống thì người đọc sẽ không ngờ tới. Thông tin bản quyền sẽ được nhúng vào tài liệu tiếng Việt dựa vào việc dịch chuyển này.
10 Hướng giải quyết vấn đề là ứng dụng kỹ thuật digital watermarking xây dựng một phương pháp nhúng thông tin vào các tài liệu tiếng Việt. Phương pháp này sẽ nhúng thông tin dựa đặc điểm đặc trưng có sử dụng dấu của tiếng Việt. Thông tin sẽ được nhúng vào các tài liệu thông qua việc dịch chuyển các dấu tiếng Việt lên hoặc xuống một khoảng nhỏ. Phương pháp dịch chuyển dấu này có thể áp dụng cho các loại tài liệu sử dụng ngôn ngữ có dấu khác như: tiếng Đức, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, … 11 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Kỹ thuật digital watermarking 2.1 Giới thiệu watermarking Các phương pháp giấu thông tin (information hiding, data hiding) đang được nghiên cứu và ứng dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực an toàn và bảo mật thông tin.
Giấu thông tin là kỹ thuật nhúng thông tin vào đối tượng khác. Giấu thông tin có nghĩa là làm cho thông tin không thể nhận biết được (imperceptible) hoặc giữ thông tin tồn tại ở trạng thái bí mật [3]. Giấu thông tin thường có hai hướng tiếp cận là steganography và watermarking.1 thể hiện mỗi liên hệ giữa kỹ thuật dấu tin và hai hướng tiếp cận này. Steganography là kỹ thuật giấu thông tin vào đối tượng khác để truyền tin đi trong trường hợp giao tiếp bí mật [1].
Watermarking là kỹ thuật giấu thông tin vào đối tượng nhằm khẳng định bản quyền sở hữu hoặc chống việc xuyên tạc thông tin [2], [4]. Information Hiding Steganography Watermarking Hình 2.1 - Phân loại kỹ thuật giấu tin Các kỹ thuật giấu tin đã được sử dụng từ rất lâu trong quá khứ. Khi nói về kỹ thuật giấu tin người ta thường nhắc tới một câu chuyện kinh điển được kể bởi sử gia Hy Lạp Herodotus [3]. Khi Histiaeus bị bắt giữ ở Susa vào thế kỷ năm trước Công nguyên, ông ta đã gởi thông điệp bí mật cho Aristagoras ở Miletus.
Để gởi thông điệp Histiaeus đã cạo trọc đầu một nô lệ tin cậy và xăm thông tin bí mật lên da đầu của người nô lệ đó. Sau khi xăm, tóc của người nô lệ mọc dài như cũ và che dấu 12 thông tin đã xăm trên da dầu. Sau đó người nô lệ được gởi tới Miletus cho Aristagoras. Aristagoras cạo đầu người nô lệ và đọc thông tin bí mật trên đầu người nô lệ [3].
Thông qua câu chuyện này có thể làm nổi bật lên sự khác nhau giữa steganography và watermarking. Nếu thông điệp trên bí đầu người nô lệ được truyền đi với mục đích qua khỏi mọi sự kiểm soát thì phương pháp giấu tin này gọi là steganography. Nếu thông tin bí mật trên đầu người nô lệ được sử dụng để nhận biết người nô lệ đó là của Histeiaus (không phải của người khác) thì phương pháp giấu tin này gọi là watermarking [3]. Khi sử dụng kỹ thuật steganography, đối tượng dùng để giấu thông tin thường được chọn làm sao cho người dùng không thể ngờ tới.
Steganography được sử dụng nhiều trong quân đội [3]. Steganography cổ điển (steganography được sử dụng trước khi dữ liệu số) được chia thành hai loại: linguistic steganography và technical steganography [2]. Technical steganography là kỹ thuật giấu thông tin vào đối tượng chứa dựa trên các đặc tính về vật lý hoặc hóa học. Giấu tin bằng cách sử dụng mực không màu là một ví dụ tiêu biểu của kỹ thuật technical steganography.
Kỹ thuật linguistic steganography sử dụng các dạng đặc biệt của chữ viết để giấu thông tin [2]. Watermarking thực hiện trên dữ liệu dạng số được gọi là digital watermaking.