đặt vấn đề và tính cấp thiết khi chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, Chƣơng 1 còn đề xuất, đƣa ra phƣơng pháp nghiên cứu phù hợp với đề tài khoá luận. Ngoài ra, nghiên cứu còn nêu lên nội dung của khoá luận đƣợc phân bổ theo từng chƣơng khác nhau và kèm theo đó là ý nghĩa của từng chƣơng cũng nhƣ tính đóng góp của đề tài để tác giả áp dụng để phân tích nghiên cứu một cách phù hợp. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên: 2. Khái niệm: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) đƣợc xác định bằng chênh lệch giữa tổng thu nhập từ lãi và tổng chi phí trả lãi hay còn gọi là thu nhập lãi thuần trên tài sản sinh lời bình quân (Angbazo, 1997). Tỷ lệ NIM càng cao thì càng thể hiện khả năng sinh lời của ngân hàng đó tốt. Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát đƣợc tài sản tạo ra lợi nhuận và đánh giá đƣợc nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất.
Công thức của NIM đƣợc thể hiện nhƣ sau: NIM = Trong đó: - Thu nhập lãi của ngân hàng gồm các khoản thu từ hoạt động cho vay khách hàng và các tổ chức tín dụng, tiền gửi, nghiệp vụ mua bán nợ, chứng khoán nợ, nghiệp vụ bảo lãnh,… - Chi phí lãi là chi phí mà ngân hàng phải trả bao gồm tiền gửi, tiền vay, phát hành giấy tờ có giá và những chi phí hoạt động tín dụng khác. - Tổng tài sản sinh lời bao gồm tiền gửi tại NHNN, tiền gửi lại các TCTD khác, chứng khoán đầu tƣ, cho vay khách hàng, chứng khoán kinh doanh. Các số này đƣợc lấy trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Ý nghĩa: Trong những năm qua, các NHTM tích cực trong việc đổi mới chính sách, đa dạng hoá các dịch vụ, mở rộng thị trƣờng nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Điều này giúp cho nền kinh tế phát triển và ổn định, cũng giúp giảm thiểu rủi ro trƣớc những cú sốc kinh tế của các ngân hàng. Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh cũng ngày càng khốc liệt hơn, vì vậy những thƣớc đo chỉ số kinh tế để đo lƣờng 9 những tiêu chuẩn từ lợi nhuận cũng góp phần kiểm soát vào hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng. Ở đây, một trong những thƣớc đo đƣợc coi là quan trọng đối với các NHTM là NIM - tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Tỷ lệ này cho thấy phần chênh lệch giữa khoản thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt đƣợc thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp (Peter Rose, 2013).
Bên cạnh đó, ngân hàng đã tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và giảm thiểu chi phí từ lãi. NIM càng cao là dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang thành công trong việc quản lý tài sản và nợ, lợi nhuận của ngân hàng ngày càng đƣợc gia tăng. Ngƣợc lại, NIM thấp sẽ cho thấy ngân hàng đang làm việc một cách kém hiệu quả và đang gặp khó khăn trong việc duy trì và gia tăng lợi nhuận. Đây đƣợc coi là thƣớc đo quan trọng nhằm phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng nhƣ khả năng sinh lời của ngân hàng.
Tỷ lệ này chiếm một phần khá cao nói lên ngân hàng kinh doanh hiệu quả nhƣ thế nào và thƣờng chiếm từ 70 – 85% tổng thu nhập của các NHTM Việt Nam. Các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên: Dựa trên những bài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trƣớc đây, có thể thấy rằng ngoài các nhân tố tác động từ công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trên thì còn bị ảnh hƣởng bởi các nhân tố vi mô và vĩ mô khác nhƣ sau: 2. Quy mô ngân hàng: Quy mô ngân hàng là một nhân tố quan trọng để thấy đƣợc sự khác biệt trong hoạt động của nhóm ngân hàng có quy mô lớn với nhóm ngân hàng có quy mô nhỏ hơn. Quy mô ngân hàng đƣợc hiểu là tổng tài sản của ngân hàng đƣợc đo lƣờng bằng logarit tự nhiên của giá trị tổng tài sản (Lanine và Vander Vennet, 2006).
Quy mô phản ánh đƣợc sức mạnh và lợi thế của ngân hàng. Quy mô ngân hàng càng lớn thì càng có nhiều lợi thế trong hoạt động kinh doanh, dễ dàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng hay huy động đƣợc các nguồn vốn với chi phí thấp. Khi quy mô ngân hàng tăng 10 đến một mức nhất định kéo theo lợi nhuận của ngân hàng tăng, tăng hiệu quả hoạt động và lợi thế cạnh tranh của ngân hàng. Quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là khoản tiền mà các cổ đông, các chủ sở hữu đóng góp ban đầu để đƣợc hƣởng các thu nhập của ngân hàng trong tƣơng lai.
Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn ban đầu, vốn bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh và các quỹ. Ở nghĩa rộng hơn, vốn chủ sở hữu ngân hàng đƣợc nhìn nhận nhƣ các khoản nguồn vốn của chủ ngân hàng dành cho việc hỗ trợ các hoạt động ngân hàng. Trải qua quá trình hoạt động, vốn chủ sở hữu có thể đƣợc bổ sung từ các cổ đông, các chủ sở hữu. Quy mô vốn chủ sở hữu đƣợc đo lƣờng bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là thƣớc đo mức độ ngại rủi ro do ảnh hƣởng của quy định về vốn chủ sở hữu tối thiểu (Maudos và Guevara, 2004).
Vốn chủ sở hữu đƣợc coi là công cụ có giá trị thể hiện tình trạng vốn, sự an toàn và lành mạnh về tài chính của ngân hàng. Nếu ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn thì đây thể hiện cho sự an toàn vốn và sức mạnh tài chính và đi kèm với mức độ rủi ro thấp. Tuy nhiên việc tăng quy mô vốn chủ sở hữu không ảnh hƣởng trực tiếp đến vốn chủ sở hữu mà thông qua áp lực tăng trƣởng tín dụng. Ngoài ra vốn đƣợc coi là tấm đệm giúp NHTM chống đỡ rủi ro phá sản.
Chi phí hoạt động: Chi phí hoạt động đƣợc đo lƣờng bằng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản của ngân hàng (Maudos và Guevara, 2004). Chi phí hoạt động ở đây bao gồm các khoản nhƣ chi nộp thuế, chi cho nhân viên, chi cho tài sản, chi dự phòng và một số khoản chi khác. Khoản chi phí mà phát sinh trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng đƣợc đại diện cho chất lƣợng quản lý của ngân hàng. Việc kiểm soát tốt chi phí hoạt động sẽ giúp quản lý hoạt động của ngân hàng một cách hiệu quả và giúp cho ngân hàng gia tăng lợi nhuận.
Chi phí hoạt động sẽ tác động trực tiếp với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, đặc biệt là các ngân hàng có nguồn thu chủ yếu từ lãi. Thanh khoản: 11 Tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền với giá trị tƣơng đƣơng và đƣợc coi là nghĩa vụ nợ đƣợc thanh toán tức thì. Thanh khoản là đáp ứng các nghĩa vụ nhƣ nhu cầu chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác một cách nhanh chóng. Tỷ lệ thanh khoản đƣợc tính dựa vào các tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản của ngân hàng (Bektas, 2014).
Tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng nhà nƣớc, tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng khác, tài khoản kinh doanh chứng khoán, giấy tờ có giá và trái phiếu Chính phủ. Ngân hàng sẽ đối diện với rủi ro thanh khoản khi đến một thời điểm nào đó ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp thời các tài sản thành tiền mặt hoặc huy động nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nghĩa vụ tức thì. Rủi ro thanh khoản sẽ khiến các NHTM bị tổn thất về cơ hội đầu tƣ và ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Tiền gửi: Tiền gửi là tiền đƣợc gửi trong các tài khoản ở ngân hàng.
Đây đƣợc coi là một trong những nguồn huy động vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này đƣợc đo lƣờng dựa trên tiền gửi của khách hàng trên tổng tài sản (Nguyen Duy Suu, Thu-Quang Luu, Kim- Hung Pho, Michael McAleer, 2020). Đây đƣợc coi là khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng và khi đến thời hạn nhất định, ngân hàng phải trả lãi cho khách hàng dựa trên lãi suất tiền gửi đã cam kết ban đầu. Nếu ngân hàng có nhiều khách hàng gửi tiền thì tiền gửi sẽ đƣợc chuyển thành tiền vay, lợi nhuận ngân hàng thu đƣợc ngày càng nhiều.
Tuy nhiên, nếu số tiền gửi quá lớn thì ngân hàng cũng phải trả lãi suất tƣơng ứng. Vấn đề này cho thấy ngân hàng trả lãi suất cao cho các khoản tiền gửi này, bên cạnh đó tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ giảm khi chi phí lãi vay tăng. Nợ xấu: Tỷ lệ của các khoản nợ xấu là một lƣợng lớn các khoản cho vay kém hiệu quả tại một ngân hàng so với tổng các khoản cho vay (Raharjo, Hakim, Manurung, Maulana, 12 2014). Chỉ tiêu nợ xấu đƣợc đo lƣờng bằng tổng nợ xấu trên tổng số dƣ cho vay.
Nợ xấu là nợ quá hạn, nợ dƣới tiêu chuẩn là nợ nghi ngờ hoặc có khả năng mất vốn. Vì nợ xấu đƣợc định nghĩa là khoản cho vay không thể trả lại đƣợc, nên thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ giảm khi ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao. Do đó, mối quan hệ giữa nợ xấu và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đƣợc kỳ vọng là ngƣợc chiều. Thu nhập ngoài lãi: Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi đƣợc coi là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh lời của ngân hàng đƣợc tính dựa trên tỷ lệ thu nhập ngoài lãi của ngân hàng chia cho tổng tài sản (Rahman và các cộng sự, 2015).
Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng bao gồm nhiều hoạt động khác nhau và đƣợc chia thành 4 thành phần chính là thu nhập ủy thác, phí dịch vụ, lệ phí và các khoản thu nhập khác. Hiện nay hầu hết các ngân hàng đang đẩy mạnh nguồn thu nhập ngoài lãi, nhằm mục đích hạn chế nhiều vào nguồn thu nhập chính từ lãi. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi càng cao thì ngân hàng sẽ giảm đƣợc chi phí dự phòng rủi ro và thu đƣợc lợi nhuận từ những nguồn kinh doanh khác của ngân hàng.