mở đầu và xây dựng thành một hệ thống triết học thống nhất, hoàn toàn Việt Nam, dứt bỏ các truyền thống thừa cũ có từ bên ngoài. Có thể nói đó là một biểu hiện của sự phát triển ý thức dân tộc. Về Phật học Trần Thánh Tông có những tác phẩm sau: 1. Thiền Tông chỉ nam; 2.
Lục Thời Sám Hối Khoá Nghi; 3. Kim Cương Tam Muội Kinh chú giải; 4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn; 5. Có những tác phẩm trên đây không còn, nhưng một số bài vẫn còn và được giữ lại trong tập Khoá hư lục.
Trong Phật giáo nói chung và thiền tông nói riêng, “Tâm” là một khái niệm quan trọng nhất. Bởi vậy, chúng ta phải đi phân tích khái niệm “Tâm” trước khi vào bản thể luận trong triết học Trần Thái Tông. “Tâm” được dịch từ Vijnàna, Manas và Citta (Thức, Ý, Tâm) Như vậy, lại có một tổ hợp gồm ý thức, ý tâm, tâm ý và tâm thức. Ở đây, ý tâm và tâm ý tương đối gần nhau, còn ý thức và tâm thức thì lại khó phân biệt.
Phật giáo quan niệm con người là sự kết hợp của các yếu tố động. Trung tâm của dòng này theo nghĩa trừu tượng đó là tâm thức. Theo người phương Đông, tâm thức đi qua ba giai đoạn: 13 z Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn chưa có cái ta, giai đoạn này phản ánh trung thành của ngoại cảnh. Giai đoạn thứ hai là sự trưởng thành của cái ta.
Giai đoạn thứ ba siêu thoát nhị nguyên, tức là giai đoạn giải thoát cái siêu ngã để nhập vào đại toàn thể, nhà Phật gọi là giai đoạn “đáo bỉ ngạn” (Vượt qua bờ bên kia), giai đoạn của triết lý nhất nguyên. Nguyễn Hùng Hậu nghiên cứu về Suzuki trong “Nghiên cứu kinh lăng già” của Suzuki cho rằng Citta, Alaya (A-lại-da) Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) là Tâm. Tâm (Citta) nuôi lớn Nghiệp (Karma), Nghiệp có nghĩa là hành động hay động tác, hành động đẻ ra hậu quả của nó, cho nên nghiệp hay đi với chữ quả hay báo là nói kết quả của những hành động từ trước đẻ ra. Do đấy mà Nghiệp còn có một ý nghĩa siêu hình học và tâm lý học là lý nhân quả.
Ý (manas) là thám xét và thức (Vijnana) là biện biệt (ở đây có một số học giả Tây phương cho rằng Đông phương triết học hãy còn ở trong vòng vô thức của người bán khai, chưa biết biện biệt cái trong và cái ngoài. “Thường lầm lẫn phần tử với toàn thể” - Bougle, nhưng ở đây ông chỉ nói đúng với tâm trạng người bán khai cổ lỗ, chứ không đúng với tâm trạng người giác ngộ). Cái tâm tổng hợp gồm Tâm (Citta), ý tâm (Manas), ý thức (Vijnana) và những thức khác vốn yên lặng và thanh tịnh nhưng khi xuất hiện vọng động trên bề mặt của tâm thì nó bị phân ra thành bát thức. Bởi vì tâm với nghĩa là thu góp, Tathagatagarbha (Như Lai Tạng) cũng là một loại kho chứa và Alaya (A-lại-da) cũng là kho (tạng) chứa hay thu gom tất cả tập khí của tư tưởng, tình cảm, ước muốn hành động của con người.
Nhưng Như lai Tạng (Tathagatagarbha) lại nghiêng về tôn giáo mà A-lai-da (Alaya) nghiêng về triết học. 14 z Manas (ý) là thế giới bên trong, nhưng không hẳn là toàn bộ thế giới bên trong. Nó bao gồm những tính chất như trí thức, lý trí, nhận thức, lý. Ngoài ra còn có cả tình cảm, xúc cảm, cảm xúc, tình.
Tâm trong một số trường hợp lại chỉ riêng cho mỗi cái như A-lại-da (Alaya), ý (Manas) hay thức (Vijnana). Trường hợp xem tâm là hệ thống bát thức vận hành theo tám cách khác nhau thì đúng hơn. Các tập khí (Vasana) luôn để lại các thuộc tính, tính chất của nó trong các sự vật, hiện tượng mà nó xông ướp. Tập khí (Vasana) là một loại năng lượng siêu nhiên mà không thể nghĩ về chúng được.
Chức năng của ý (Manas) là suy nghĩ về Alaya sáng tạo, phân biệt chủ thể và đối tượng từ các nhất thể thuần tuý của Alaya. Tập khí tích tụ trong Alaya bây giờ bị phân ra thành nhị biên tính. Điều này được so sánh với sự đa dạng của sóng quấy động biển Alaya ý (Manas) là xấu theo nghĩa đó, là nguồn gốc gây lên tai hoạ, khi nó có những khát vọng dựa trên những phán đoán lầm lạc, chẳng hạn chấp vào ngã, thế giới hiện tượng là thật. Thức luôn suy nghĩ về ý, đi cùng với nhau, qua lại để tạo nên thế giới hiện tượng.
Thức khác với ý ở chỗ nó chủ yếu giữ lại chức năng về tri thức của ý. Vậy tâm là một kho chứa vô tận các dấu ấn, dấu vết vốn được tích tụ từ thời vô thuỷ. Ý chính là sự sáng tạo của Tâm. Nguyễn Hùng Hậu cho rằng: Tâm có nhiều cấp độ khác nhau.
Thứ nhất nếu “Tâm” là trái tim bằng xương bằng thịt thì Phật không để ý tới. Tâm là thức (Vijnana) thì theo một nghĩa nào đó là ý thức thông thường của con người. Nhưng không chỉ là ý thức mà nó còn là toàn bộ thế giới bên trong. Nghĩa là ngoài lý ra còn phải có cả tình.
Cái Tâm này chính là ý. Nó cũng là bát thức. Trong Phật giáo, Tâm là bản thể vũ trụ (tâm thể, chân tâm). Khái niệm tâm ở Việt Nam còn được dùng bằng những từ như “lòng”, “bụng”, “dạ” theo cấp bậc chủ quan thì nó thiên về tình cảm, bởi vậy tư duy, lối sống thường 15 z mang màu sắc tình cảm.
Nhưng cũng chính nó lại làm hạn chế đến tiếp thu sáng tạo những tri thức duy lý, khoa học kỹ thuật để hình thành nên cách nhìn khoa học. Thứ hai, bên cạnh khái niệm “Tâm” là khái niệm về “Pháp” (Dharma) nó là tất cả vật chất và ý thức, cả cái tương đối lẫn cái tuyệt đối. Phật giáo ngay từ đầu đã thừa nhận sự tồn tại các pháp, như vậy nó cũng thừa nhận thế giới vật chất là tồn tại chứ không như không luận (Sunyavada) của đại thừa sau này. Đi liền với từ “Pháp” có từ “Thân” tạo nên thành một khái niệm “Pháp thân” (Dharma Kaya).
Đây là một khái niệm quan trọng của đại thừa. Trong đại thừa có quan niệm tam thân. Đây là quan niệm mà có ba khía cạnh khác nhau của một hình ảnh: 1. Pháp thân (hay thân pháp) (Dharma Kaya) biểu hiện thực tại đầu tiên bất biến.
Báo thân (Sambhoga Kaya) gắn với sự ngự trị của vật trong thế giới siêu nhiên. Ứng thân (Nirmana Kaya) là ứng hiện của Phật với khuôn mặt người bình thường trong thế giới hiện hữu. Đối với tư trào Đại thừa thì Phật là nguyên lý tối cao với tư cách là Pháp thân, cái tuyệt đối, không sinh mà cũng không mất. Tất cả các Đức Phật đều là thể hiện của Pháp thân.
Phật giáo nguyên thủy Việt Nam trong các tác phẩm của Mâu Tử và Khương Tăng Hội được mô tả theo đúng tinh thần của tư trào Đại thừa, một tư trào Phật giáo rất năng động và tích cực kết hợp nhuần nhuyễn tính phóng khoáng, không cố chấp, không giáo điều. Thứ ba, đi liền với Pháp còn có một khái niệm nữa là Tính. Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã đề cập đến một loạt những khái niệm có tính chất bản thể luận, chẳng hạn như “Chân Tâm”, “Chân Tính”, “Chân Thân”, “Pháp Tính”, “Hư Vô”, “Như Như”, “Phật Tâm”. Họ cho rằng bản thể tồn tại khắp mọi nơi, mọi lúc, không sinh cũng không diệt.
“Bất sinh diệc bất diệt Bất thường diệc bất đoạn 16 z Bất nhất diệc bất dị Bất lai diệc bất xuất…” Long Thọ (Không sinh cũng không diệt. Không thường cũng không đoạn. Không phải là một, cũng không phải là khác. Không đến cũng không đi).
Tất cả cái gì ta tri giác ở trong hay ở ngoài theo liên tưởng với sự tri giác cùng với tinh thần năng tri đều huyền ảo như cảnh vật trong mộng. Bởi thế mà bảo rằng không có vật tinh thần hay phi tinh thần có thực cả. Thế giới là Không (Sunya) là Chân không. Tư tưởng vô trú siêu việt: không phải là không có, tất cả mọi sự vật đều do nhân duyên mà có, có một cách tương đối.
Ở đây, bản thể với thế giới hiện tượng cũng là một, giống như sóng với nước. “Chân thân thành vạn tượng Vạn tượng tức chân thân” Sau thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi là Vô Ngôn Thông, dòng thứ hai du nhập vào Việt Nam đã đưa ra khái niệm “Thể”. Họ cho rằng: Thể có ở trong vạn vật nuôi dưỡng mọi sự vật nhưng lại không phải là các sự vật đó. Ngoài khái niệm “Thể” Vô Ngôn Thông còn có thêm “Chân Như” “tính”, “Pháp tính”, “Pháp thân”, “Hư Không”, “Không tịnh”, “Thể”, “Thân Tâm”.
Bản thể có ở khắp mọi nơi có ở trong mỗi người. Khái niệm “Không”, “Hư”, “Hư không”, “Thái hư” của Trần Thái Tông ra đời trên nền tảng của cái đã đi trước để kế thừa, phát triển những tư tưởng của các thiền phái trên. Khái niệm “Không” của nhà Phật một mặt chỉ bản thể, sự khởi nguyên của vũ trụ. Mặt khác chỉ sự quan hệ trong thế giới hiện tượng với sắc.
Không không có nghĩa là không có gì, không phải là phủ định mọi sự vật hiện tượng. Không cũng là có mà cũng không thật. Xét ở góc độ này thì không ở đây là thế giới hiện tượng. Nó bao hàm tất cả mâu thuẫn “Có” và “Không”.
Còn “Không” bản thể của nhà Phật thì thế giới hiện tượng hình 17 z danh sắc tướng là huyền ảo, không có gì là thật. Tất cả những gì mà từ giác quan đi vào (sắc, thụ, tưởng, hành thức) đều là giả, tự nó không thật. Ở đây, “Không” của nhà Phật đã vượt lên sự mâu thuẫn, nó không sinh không diệt, không phải không trái, không thêm, không bớt, không thiện, không ác. Mà “Không” cũng “Hư”.
Nhưng “Không” nghiêng về khách quan bên ngoài, còn “Hư” nghiêng về chủ quan bên trong. Trần Thái Tông dùng khái niệm “Hư” để đặt tên “Khoá hư Lục” cho sách. “Do không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không, thị vọng tòng không, không hiện vọng, vọng sinh chúng sắc”. Từ cái thực tại siêu nhiên nổi lên vọng động lầm mê thấy có hình tướng.
Hình tướng từ cái ý thức chân thực siêu nhiên mà ra, ấy là mê lầm theo chỗ vốn không mê lầm chân thật mà xuất hiện. Mê lầm mà sinh ra các hình tướng khác nhau vô số. Như vậy, “Không” ở đây là cái tuyệt đối, là thái hư, chân tể. Từ cái không tuyệt đối đã khởi nguyên lên vọng - tức là vô minh.
Vô minh theo “Không” thì cũng là vọng tòng không, không hiện vọng, vọng thành sắc hay vọng sinh chúng sắc, tức là vô minh sinh ra thế giới hình danh sắc tướng.