PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết và ý nghĩa của đề tài Hội nhập quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ cho các chiến lƣợc phát triển kinh tế là một xu hƣớng tất yếu đối với các nƣớc đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Đi cùng với xu hƣớng này, trong những năm qua, Việt Nam đã gia nhập hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, ký hiệp định song phƣơng Việt Nam - Hoa Kỳ và gần đây nhất là chính thức gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) vào ngày 01/01/2007. Đồng thời, trong những năm gần đây, hoạt động dịch vụ tài chính là hoạt động có tính năng động nhất, phát triển nhanh nhất, không những tăng trƣởng về mặt quy mô, mạng lƣới giao dịch mà còn tăng cả về năng lực tài chính, năng lực điều hành, số lƣợng, chất lƣợng sản phẩm ngày càng đa dạng.
Do sự phát triển vƣợt bậc này đã góp phần tích cực trong việc huy động vốn để đầu tƣ, cho vay, đáp ứng nhu cầu đầu tƣ của xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hoạt động dịch vụ tài chính vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế nhƣ chƣa tạo dựng đƣợc thƣơng hiệu riêng, tính tiện ích chƣa cao, việc tiếp cận dịch vụ còn hạn chế, chƣa đáp ứng nhu cầu của xã hội, của quá trình hội nhập quốc tế. Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động về dịch vụ tài chính đƣợc dự báo là có sự cạnh tranh khốc liệt nhất, do trƣớc khi gia nhập WTO chúng ta có sự bảo hộ của nhà nƣớc, còn sau khi gia nhập WTO thì “sân chơi” đã bình đẳng, các bảo hộ của nhà nƣớc đang dần dần bị xóa bỏ. Vậy các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính cần phải làm gì để không phải “thua ngay” trên “sân nhà” khi các chủ thể nƣớc ngoài đƣợc kinh doanh nhƣ các chủ thể trong nƣớc? Các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính cần phải làm thế nào để đáp ứng nhƣ cầu tăng trƣởng nền kinh tế của Việt Nam, vừa phải đáp ứng những yêu cầu về mặt an toàn cũng nhƣ mang lại hiệu quả cho chính chủ thể 1 z cung cấp dịch vụ, đồng thời phải đáp ứng các chuẩn mực quốc tế? Đó là những vấn đề cần phải giải đáp.
Theo đà phát triển đó, Việt Nam sẽ phải mở cửa ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó tự do hoá dịch vụ tài chính đang trở thành vấn đề có tính thời sự hiện nay. Mặc dù trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, cũng nhƣ sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đề cập đến các vấn đề về tự do hóa thƣơng mại, trong đó có dịch vụ tài chính - ngân hàng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sâu hơn về quá trình thực hiện các cam kết về tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng trong khuôn khổ GATS/WTO của một số nƣớc, vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới. Do đó đề tài “Tự do hóa dịch vụ tài chính - ngân hàng, trong khuôn khổ GATS/WTO: kinh nghiệm quốc tế và những gợi ý đối với Việt Nam” nhằm nghiên cứu, làm rõ về quá trình thực hiện tự do hóa các dịch vụ tài chính - ngân hàng của một số nƣớc có lựa chọn và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong quá trình triển khai thực hiện các cam kết về tự do hóa các dịch vụ tài chính - ngân hàng của Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu. Lộ trình tự do hoá các dịch vụ tài chính trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực rất rộng và phức tạp bao gồm mọi lĩnh vực và trong nhiều trƣờng hợp chúng lại nằm ngoài lĩnh vực tài chính tiền tệ. Việc am hiểu những kiến thức cơ bản nhất về lĩnh vực tài chính tiền tệ, các phƣơng thức cung cấp dịch vụ tài chính, tính cơ động vốn trong dịch vụ tài chính,… hiện nay không chỉ là ốc đảo riêng đầy huyền bí của ngành tài chính ngân hàng mà còn là những kiến thức bắt buộc đối với các nhà đầu tƣ và công chúng và là nhu cầu bức thiết của mọi ngành trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cho đến nay có một số sách viết về tự do hóa dịch vụ tài chính: 2 z 1) Sách chuyên khảo “Phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong tiến trình hội nhập” của PGS.
Thái Bá Cần - Nxb Tài Chính 2004. Sách này đã giới thiệu một cách khái quát về thị trƣờng dịch vụ tài chính, các loại hình dịch vụ tài chính, thị trƣờng tài chính ở một số nƣớc trên thế giới và thực trạng hoạt động thị trƣờng dịch vụ tài chính ở Việt Nam, một số vấn đề về môi trƣờng pháp lý và hệ thống cơ quan quản lý nhà nƣớc, định hƣớng và giải pháp phát triển thị trƣờng tài chính ở Việt Nam. Tuy nhiên, tài liệu này chỉ nêu một cách tổng quát về thị trƣờng dịch vụ tài chính, chƣa đi sâu vào phân tích kỹ các mặt tồn tại, hạn chế và tại sao cần thiết phải tự do hóa dịch vụ tài chính ở Việt Nam. 2) Sách chuyên khảo “Tự do hóa dịch vụ tài chính trong khuôn khổ WTO” của Viện nghiên cứu tài chính - Nxb Tài chính 2001.
Nội dung cuốn sách tập trung vào quá trình thực hiện tự do hóa dịch vụ tài chính, phạm vi thực hiện cam kết trong khuôn khổ WTO của một số nƣớc trên thế giới và kinh nghiệm của các nƣớc. Tuy nhiên, cuốn sách chỉ đi sâu vào nghiên cứu quá trình thực hiện tự do hóa dịch vụ tài chính, chƣa đi sâu vào phân tích mối quan hệ tự do hóa dịch vụ tài chính của Việt Nam sau hội nhập kinh tế quốc tế. 3) Bài báo “Bước tiến tự do hóa dịch vụ tài chính”, Mai Châu - www. Nội dung bài viết chủ yếu tập trung đến hoạt động thúc đẩy quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính ASEAN, trong đó chủ yếu là dịch vụ bảo hiểm, các cam kết mở cửa thị trƣờng bảo hiểm trong ASEAN.
Tuy nhiên, bài viết chƣa đề cập đến các lĩnh vực khác của tự do hóa tài chính trong khuôn khổ ngoài ASEAN nhƣ GATS/WTO. 4) Bài báo “Các nước đang phát triển cần mở cửa thị trường cho nhau”, David Dollar - Tạp chí điện tử của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ 2007. Nội dung của bài viết phân tích tại sao các nƣớc đang phát triển phải mở của thƣơng mại và lợi ích từ toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, bài viết chỉ mới đề cập 3 z đến vấn đề hƣởng lợi của việc mở cửa thị trƣờng và tham gia vào quá trình thƣơng mại quốc tế của các nƣớc đang phát triển, chƣa phân tích ngoài việc mở cửa thƣơng mại nói chung cần mở cửa toàn diện các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
5)Bài báo “Được gì khi tự do hóa tài chính”, Nguyễn Hoài - Thời báo kinh tế Việt Nam 2007. Bài viết tập trung nêu lên vấn đề giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nƣớc vào các quan hệ và giao dịch tài chính, các hoạt động tài chính đƣợc tự do hoạt động theo tín hiệu thị trƣờng; điều này thực sự cần thiết cho mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Tuy nhiên, bài viết chỉ nêu vấn đề tự do hóa tài chính ở phạm vi bài báo nên cũng chƣa đi sâu vào phân tích kỹ bản chất của tự do hóa tài chính và vấn đề tự do hóa tài chính ở Việt Nam trong khuôn khổ GATS/WTO và định hƣớng giải pháp cho Việt Nam. 6) Bài báo “Malaysia tự do hóa lĩnh vực tài chính”, Thƣơng vụ Việt Nam tại Malaysia - www.
Nội dung bài viết nêu lên chính sách tự do hóa lĩnh vực tài chính của Malaysia nhằm thay đổi cấu trúc giữa nền kinh tế và đa dạng hóa các nguồn lực phát triển để thúc đẩy mở rộng kinh tế hơn nữa, bởi dịch vụ tài chính là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Malaysia. Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập đến chính sách phát triển kinh tế thông qua mở rộng tự do hóa lĩnh vực tài chính của Malaysia, chƣa đi sâu vào phân tích tại sao Malaysia phải mở rộng tự do hóa lĩnh vực tài chính và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 7) Bài báo “Phát triển thị trường vốn, tự do hóa các dịch vụ tài chính trong ASEAN”, Thanh Hà - http://vovnews. Nội dung bài viết nêu lên vấn đề phát hành trái phiếu cũng nhƣ cổ phiếu trào bán qua biên giới và những giải pháp có liên quan nhƣ luân chuyển dòng vốn, chính sách thuế và các quy định về quản lý.
Tuy nhiên, bài viết mới dừng ở giới hạn nêu ra vấn đề và gợi ý về giải pháp 4 z chƣa đi vào phân tích sâu tại sao cần mở rộng thị trƣờng vốn thông qua các kênh của tự do hóa tài chính trong bối cảnh hội nhập quốc tế. 8) Bài báo “Tự do hóa dịch vụ tài chính trong ASEAN” - www. Nội dung bào viết nêu lên lộ trình hội nhập tiền tệ và tài chính khu vực ASEAN, trong đó có lĩnh vực tự do hóa dịch vụ tài chính và giảm thiểu nguy cơ tác động ngƣợc chiều từ tự do hóa dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở phạm vi chung toàn ASEAN chƣa nêu lên vấn đề làm sao Việt Nam cần đẩy mạnh tự do hóa dịch vụ tài chính sau khi đã gia nhập WTO.
9) Bài viết “Tự do hóa tài chính - kinh nghiệm của Trung Quốc, Canada và bài học đối với Việt Nam” - www. Nội dung của bài viết chỉ ra kinh nghiệm của Trung Quốc và Canada trong lĩnh vực tự do hóa tài chính, phân tích mặt lợi và mặt trái của tự do hóa tài chính từ đó rút ra những gợi ý cho Việt Nam. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở góc độ hẹp khi đi vào phân tích mặt lợi và mặt trái của vấn đề tự do hóa tài chính chƣa tổng hợp sâu chuỗi toàn bộ quá trình tự do hóa tài chính khi tham gia hội nhập quốc tế và giải pháp cụ thể để giúp Việt Nam tránh những mặt trái của tự do hóa tài chính trong khuôn khổ GATS/WTO. 10) Bài báo “Tự do hóa tài chính phải đi đôi với kiểm soát rủi ro”, Đức Thành - www.
Nội dung bài viết nêu lên vấn đề kiểm soát các rủi ro đối mặt khi tiến hành tự do hóa tài chính ở Việt Nam.