Chương 1: Tổng quan về sự truyền dẫn lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng diễn biến và mối tương quan giữa lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước và lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. - Chương 3: Đo lường mức độ truyền dẫn lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước vào lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam. - Phần kết luận và kiến nghị.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TRUYỀN DẪN LÃI SUẤT CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VÀO LÃI SUẤT TIỀN GỬI VÀ LÃI SUẤT CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý thuyết của truyền dẫn lãi suất 1. Lập luận của Taylor1 về cách tính lãi suất danh nghĩa Một trong những lý thuyết để tính toán lãi suất được đưa ra bởi nhà kinh tế học John Taylor. Ông đưa ra cách tính toán lãi suất danh nghĩa phù hợp với điều kiện tăng trưởng và lạm phát. Theo đó các ngân hàng xác định lãi suất trong ngắn hạn khi các điều kiện kinh tế thay đổi để đạt được mục tiêu là ổn định kinh tế trong ngắn hạn và kiểm soát lạm phát trong dài hạn.Khi chính sách tiền tệ phản ứng đủ mạnh với lạm phát, sự cân bằng của nền kinh tế dần được xác định.
Lãi suất danh nghĩa cần được điều chỉnh đủ lớn với một sự gia tăng trong lạm phát nhằm làm tăng lãi suất thực, do đó lãi suất danh nghĩa phải được điều chỉnh ít nhất là bằng với thay đổi trong tỷ lệ lạm phát (kỳ vọng), nhằm xác định được sự cân bằng nền kinh tế một cách ổn định. Nếu lãi suất danh nghĩa điều chỉnh không đủ lớn thì kỳ vọng về lạm phát gia tăng dẫn đến lãi suất thực giảm lúc đó nền kinh tế sẽ biến động và không đạt được trạng thái cân bằng xác định, xuất phát từ hiệu ứng “tự đáp ứng các thay đổi kỳ vọng” (self-fulfilling revisions in expectations). Lãi suất giảm sẽ làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư và tiêu dùng qua đó làm tăng tổng cầu, tổng cầu tăng sẽ làm lạm phát thực tế tăng theo. Nguyên tắc Taylor được mô phỏng theo phương trình.
Trong đó: ___________________________ (1) Dựa theo bài nghiên cứu: Woodford (2003), Interest and prices: Foundations of a theory of monetary policy;Stability, Claudia Kwapil and Johann Scharler, (2006) Interest Rate Pass-Through, Monetary Policy Rules and MacroeconomicStability TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 it: Lãi suất danh nghĩa ngắn hạn mục tiêu của Ngân hàng trung ương. πt: tỷ lệ lạm phát thực tế. r*t: Lãi suất thực tại điểm cân bằng của thị trường. πt*: Tỷ lệ lạm phát mục tiêu của Ngân hàng trung ương.
yt: logarit của tổng sản lượng GDP thực tế. yt*: Logarit của tổng sản lượng GDP tiềm năng. aπ> 0 và ay> 0, theo Taylor thì aπ = ay = 0.5 Nguyên tắc Taylor hướng dẫn rằng nếu lạm phát tăng 1% thì đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải tăng lãi suất danh nghĩa hơn 1% (cụ thể, bằng 1 + aπ), aπ> 0 có nghĩa khi lạm phát tăng thì lãi suất thực tăng lên để làm giảm bớt nền kinh tế đang tăng trưởng nóng có lạm phát cao, để làm được điều này thì lãi suất phải tăng cao hơn lạm ngược lại đối với trường hợp nền kinh tế suy thoái, giảm phát. Các khái niệm truyền dẫn lãi suất và cơ chế truyền dẫn lãi suất Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập đến trong nhiều lý thuyết kinh tế trong nhiều năm qua.
Việc định nghĩa “quá trình truyền dẫn lãi suất” trong nền kinh tế, nhìn chung, nhận được sự đồng thuận nhất trí cao của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Trong nghiên cứu này, quá trình truyền dẫn lãi suất được định nghĩa theo Qayyum và Khawaya (2005) là quá trình mà trong đó lãi suất bán lẻ (lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi) của các ngân hàng điều chỉnh trước sự thay đổi của lãi suất chính sách hay lãi suất thị trường tiền tệ, quá trình này gồm hai yếu tố đặc trưng là mức độ và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ. Khái niệm “mức truyền dẫn hoàn toàn” hàm ý rằng khi lãi suất chính sách tăng lên (hay giảm đi) bao nhiêu phần trăm thì lãi suất bán lẻ cũng tăng lên (hay giảm đi) bấy nhiêu phần trăm. Tương tự, thuật ngữ “mức truyền dẫn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 không hoàn toàn” hàm ý rằng lãi suất bán lẻ thay đổi một lượng ít hơn so với sự thay đổi của lãi suất chính sách.
Các kênh truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ Cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ được định nghĩa là tác động của những thay đổi trong các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương đến thay đổi trong mức giá và sản lượng một quốc gia. Có nhiều quan điểm khác nhau về cách thức phân chia các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Theo Mishkin (1996), có ba kênh truyền dẫn cơ bản của chính sách tiền tệ: kênh lãi suất truyền thống, kênh giá tài sản và kênh tín dụng. Tuy nhiên, nhiều nhà kinh tế khác lại thống nhất chia làm năm kênh truyền dẫn: kênh lãi suất, giá tài sản, tín dụng, kỳ vọng và tỷ giá hối đoái.
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào kênh truyền dẫn lãi suất. Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn quá trình này, chúng ta cần nắm rõ được sự vận hành của các kênh tác động cụ thể khi lãi suất chính sách thay đổi. Kênh lãi suất Kênh lãi suất là kênh cơ bản được đề cập tới trong nhiều lý thuyết kinh tế trong hơn năm mươi năm qua và là cơ chế truyền dẫn tiền tệ quan trọng trong mô hình IS - LM của phái Keynes, một nền tảng cho lý thuyết kinh tế học vĩ mô hiện nay. Có thể khái quát kênh truyền dẫn lãi suất theo sơ đồ: irY M thể hiện việc nới lỏng chính sách tiền tệ, khiến lãi suất thực giảm ( ir ), do đó làm giảm chi phí vốn, dẫn đến tăng chi tiêu cho đầu tư (I ), từ đó dẫn đến tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y).
Cụ thể, khi chính sách tiền tệ cần được thắt chặt (hay nới lỏng), ngân hàng trung ương hay nhà chức trách trong lĩnh vực tiền tệ sẽ tăng (hay giảm) lãi suất điều hành (lãi suất chính sách) các ngân hàng và các định chế tài chính khác sẽ tuân theo bằng cách tăng (hay giảm) lãi suất của các khoản tiền gửi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 và lãi suất cho vay của họ. Khi đó, để đối mặt với chi phí vốn cao hơn (hay thấp hơn), người tiêu dùng và các doanh nghiệp sẽ theo đó điều chỉnh mức tiêu dùng và chi tiêu vốn đầu tư, do đó ảnh hưởng đến sản lượng và mức độ lạm phát. Thay đổi trong lãi suất chính sách sẽ dẫn đến sự thay đổi lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đầu tiên. Những thay đổi của lãi suất trên thị trường liên ngân hàng sau đó sẽ gây ra những thay đổi của lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi của các ngân hàng.
Những thay đổi này có thể được giải thích một phần bằng hoạt động quản lý danh mục của các định chế tài chính nhằm mục đích duy trì sự canh tranh và tạo ra lợi nhuận. Tốc độ và mức độ truyền dẫn từ lãi suất chính sách và lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất bán lẻ của ngân hàng đặc trưng cho mức độ hiệu quả của chính sách tiền tệ và qua đó ảnh hưởng đến hệ thống giá cả cũng như sự ổn định của hệ thống tài chính. Kênh lãi suất được coi là một kênh hết sức quan trọng trong việc truyền dẫn tác động của chính sách tiền tệ tới thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng để đạt được tác động mong muốn, chỉ tác động đến lãi suất thị trường liên ngân hàng hay lãi suất của trái phiếu chính phủ là chưa đủ mà thay vào đó, cần tác động vào tất cả các loại lãi suất bán lẻ khác nhau của các ngân hàng vì các loại lãi suất này chính là điều kiện cần thiết để thay đổi hành vi tiêu dùng và đầu tư của các chủ thể kinh tế.
Như vậy, bằng chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương điều chỉnh lãi suất ngắn hạn. Qua đó tác động đến lãi suất thị trường theo nguyên lý cấu trúc kỳ hạn của lãi suất. Nhìn chung, hiệu quả kênh truyền dẫn này phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường tài chính. Kênh tín dụng Bernanke và Gertler (1995) xác định hai con đường mà qua đó kênh tín dụng vận hành và tác động đến nền kinh tế.
Con đường thứ nhất thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng hay cung về vốn vay của các định chế tài chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhận tiền gửi. Con đường thứ nhất thông qua bảng cân đối kế toán của các hãng, tức chính sách tiền tệ gây ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán của những người đi vay. Bernanke và Gertle nhấn mạnh rằng kênh tín dụng có tác dụng bổ trợ và tăng cường tính hiệu quả cho kênh lãi suất. Khi lãi suất chính sách giảm, các nghĩa vụ nợ của người đi vay giảm đi và do đó, các ngân hàng sẵn lòng cho vay nhiều hơn vì rủi ro của khách hàng đã giảm đi nhiều.
Hệ quả là hoạt động đầu tư tăng lên làm tăng tốc độ phát triển kinh tế đồng thời cũng gây ra áp lực lạm phát. Kênh tỷ giá Chính sách tiền tệ có thể gây ra sự thay đổi trong tỷ giá và từ đó dẫn đến sự thay đổi trong giá cả, hoạt động thương mại và đầu tư (Coricelli và cộng sự, 2006). Việc giảm lãi suất chính sách sẽ làm các loại lãi suất nói chung giảm xuống. Lợi tức thu được từ các khoản đầu tư trong nước giảm tương đối so với các khoản đầu tư ở nước ngoài, dẫn đến dòng vốn chảy ra nước ngoài.
Do vậy, đồng nội tệ sẽ mất giá so với đồng ngoại tệ làm cho xuất khẩu tăng lên, nhập khẩu giảm xuống cùng với đó là tổng cầu tăng lên dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn. Kênh tài sản Lãi suất giảm làm cho việc đầu tư vào các loại cổ phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với việc đầu tư vào các loại trái phiếu hay các loại tài sản hưởng lãi suất cố định khác. Việc mọi người đồng loạt tăng đầu tư vào cổ phiếu sẽ làm tăng giá của loại tài sản này.