Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ văn học chuyên ngành Văn học dân gian (mã số: 62 22 36 01) của tác giả Đặng Thị Thu Hà, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Chí Quế và TS. Nguyễn Thị Bích Hà tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013, tập trung nghiên cứu đề tài "Truyện cổ Phật giáo trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam".
Thông tin luận án:
- Tác giả: Đặng Thị Thu Hà
- Tên luận án: Truyện cổ Phật giáo trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam
- Chuyên ngành: Văn học dân gian | Mã số: 62 22 36 01
- Cơ sở đào tạo: Đại học Quốc gia Hà Nội (2013)
- Người hướng dẫn: TS. Lê Chí Quế, TS. Nguyễn Thị Bích Hà
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong khoa nghiên cứu folklore Việt Nam, truyện cổ dân gian luôn chiếm vị trí trọng yếu. Tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng đã bén rễ vào đời sống tâm linh của người Việt hơn 2000 năm và phản ánh sâu sắc vào văn học dân gian. Tuy nhiên, trong khi mảng văn học viết Phật giáo (đặc biệt là văn học thời Lý - Trần) đã được nghiên cứu chuyên sâu, thì mảng truyện cổ dân gian về tôn giáo và cụ thể là truyện cổ Phật giáo trong một thời gian dài hầu như bị bỏ trống.
Khoảng trống học thuật này xuất phát từ hai nguyên nhân chính:
- Về phương diện tư liệu: Việc sưu tầm, ghi chép và phân loại truyện cổ dân gian liên quan đến tôn giáo trước đây còn phân tán, thiếu tính hệ thống.
- Về phương diện quan niệm học thuật: Giới nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam còn thiếu một giới thuyết cụ thể và hệ tiêu chí rõ ràng về truyện cổ tôn giáo cũng như truyện cổ Phật giáo. Truyện cổ tôn giáo thường hoặc bị gạt ra ngoài phạm vi truyện kể dân gian (do bị quy về tính chất mê tín, tuyên truyền yếm thế), hoặc bị đánh đồng chung vào nhóm truyện cổ tích chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác lập khái niệm truyện cổ Phật giáo, phân biệt rõ giữa truyện cổ Phật giáo và truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo dựa trên bản thân văn bản truyện kể.
- Khảo sát, nhận diện các đặc điểm cơ bản về nội dung và nghệ thuật của truyện cổ Phật giáo Việt Nam, từ đó xác định vị trí của bộ phận truyện này trong hệ thống truyện cổ tôn giáo và hệ thống tự sự dân gian Việt Nam.
- Tiếp cận truyện cổ Phật giáo theo hướng loại hình học (type và motif), khảo sát 3 type truyện tiêu biểu trong mối liên hệ với bảng tra cứu type truyện của Antti Aarne - Stith Thompson (A-T) và bảng chỉ dẫn motif của Stith Thompson.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ truyện cổ Phật giáo Việt Nam bản địa và các truyện có nguồn gốc ngoại lai đã được bản địa hóa. Các truyện cổ Phật giáo của nước ngoài (Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản...) chỉ được sử dụng làm tư liệu so sánh, đối chiếu.
- Phạm vi tư liệu: 130 đơn vị bản kể truyện cổ Phật giáo đã được văn bản hóa trong các tập, tuyển tập truyện cổ dân gian xuất bản hoặc tái bản từ năm 1886 đến thời điểm thực hiện luận án.
- Phạm vi tộc người: Khảo cứu vốn truyện kể của 4 dân tộc có truyền thống theo đạo Phật tại Việt Nam: người Kinh, người Khơ-me, người Chăm và người Sán Chay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ Phật giáo Việt Nam theo trình tự thời gian và các khuynh hướng tiếp cận:
Lịch sử sưu tầm truyện cổ Phật giáo
- Thời kỳ cổ - trung đại: Sách cổ nhất có ghi chép truyện cổ Phật giáo là Báo cực truyện (chưa rõ tác giả, ghi lại sự tích Khâu Đà La và Man Nương tại chùa Dâu). Tiếp theo là Thiền uyển tập anh (thế kỷ XII-XIII), Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) và Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV-XV với 3 truyện: Truyện Man Nương, Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải). Từ thế kỷ XVI đến XVIII, các nhà nho tiếp tục ghi chép, viết lại truyện cổ dân gian.
- Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1975:
- A. Landes xuất bản Cổ tích và truyền thuyết An Nam (1886) tại Nhà xuất bản Thuộc địa (Imprimerie Coloniale), sưu tập nhiều truyện như Truyện Thủ Huồn, Mối thù truyền kiếp, Ông sư hóa thành con ếch, Sự tích cái chân sau con chó, Truyện ông sư hóa thành bình vôi.
- Hoàng Trọng Miên xuất bản Việt Nam văn học toàn thư, quyển 2 - Truyện cổ tích (1960 tại Sài Gòn), tuyển chọn 19 truyện cổ tôn giáo (trong đó có 11 truyện cổ Phật giáo) và 4 truyện Phật giáo trong phần cổ tích lịch sử.
- Hoàng Trúc Ly với Truyện cổ Việt Nam (1970) gồm 4 truyện cổ Phật giáo; Nguyễn Duy với Truyện cổ Việt Nam (1971) gồm 3 truyện cổ Phật giáo.
- Giai đoạn từ sau năm 1975 đến nay:
- Nguyễn Đổng Chi với bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (gồm 5 tập, tái bản năm 2000 gồm 2 quyển) sưu tầm và khảo cứu 201 cốt truyện cùng nhiều dị bản, trong đó có các truyện như Sự tích cá he (số 13), Truyện Từ Đạo Hạnh hay là sự tích thánh Láng (số 120), Quan Âm Thị Kính (số 176).
- Mai Xuân Hải (1993) xuất bản Truyện ngụ ngôn (nhà Phật) trích từ Kinh Bách Dụ.
- Tiêu Tác Lê Minh với Những điển tích Phật giáo kỳ thú (Hoàng Văn Giáp và Trần Văn Quyền dịch, 1993; tái bản 2008).
- Trần Lam Huy (1999) chủ biên bộ Truyện cổ Phật giáo (3 tập); Minh Chiến (1999) biên soạn Truyện cổ Phật giáo.
- Lệ Như Thích Trung Hậu (2004) với Những truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo.
- Minh Chiếu (2004, 2008) với các bộ Truyện cổ Phật giáo (2 tập và 3 tập); Tinh Vân và Ngô Trọng Đoan (Hạnh Đoan dịch, 2006) với Truyện Phật giáo; Lý Minh Quyền và Thích Trung Nghĩa dịch Những điển tích văn học Phật giáo (giới thiệu 57 điển tích).
Lịch sử nghiên cứu truyện cổ Phật giáo
- Nguyễn Đổng Chi: Xác định đặc trưng thể loại cổ tích qua ba tiêu chí (tính chất cổ của sự việc, không xa lạ với bản sắc dân tộc, tính tư tưởng và nghệ thuật). Tác giả nhận định Tiên thoại, Phật thoại là truyện mang dấu ấn tôn giáo, thường do tăng lữ truyền khẩu để giải thích chủ nghĩa yếm thế và luật nhân quả báo ứng, song trong tuyển tập của mình ông vẫn đưa nhiều truyện Phật giáo vào thể loại cổ tích.
- Đinh Gia Khánh và Hoàng Tiến Tựu: Trong các giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (1972, 1978), Đinh Gia Khánh cho rằng Phật giáo dùng Phật thoại để tuyên truyền giáo lý, tính chất mê tín của truyện giúp phân biệt với truyện dân gian; Hoàng Tiến Tựu lưu ý đến thế giới quan thần bí, sự chuyển hóa giữa cổ tích với thần thoại hoặc Phật thoại khi nhân vật thần kỳ lấn át con người.
- Nguyễn Duy Hinh: Trên Tạp chí Văn học (số chuyên đề tháng 7-8/1992) và chuyên luận Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, tác giả chỉ ra Phật giáo Việt Nam phân hóa thành hai dòng: dòng cung đình (bác học) và dòng dân gian. Dòng Phật giáo dân gian thấm nhuần tư tưởng nhân bản, cầu sinh cứu độ có tính hiện sinh, là cội nguồn thoát thai của các yếu tố Phật giáo trong truyện kể dân gian.
- Khúc Nhã Vọng (1992): Nghiên cứu văn hóa nhà chùa trong phenclo Việt Nam, nhận định truyện cổ Phật giáo tương ứng với Tiên thoại, có số lượng không ít nhưng ít tính thần kỳ, gần gũi với cổ tích sinh hoạt.
- Nghiên cứu quốc tế về truyện cổ tôn giáo: Các công trình của James Frazer (1918), Don Yoder (1971), John Bailey (1992), Linda Dégh và công trình phân loại type truyện của Antti Aarne - Stith Thompson (1961) đã xác lập vị trí chính thức của truyền thuyết, cổ tích và truyện cười tôn giáo trong folklore quốc tế.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án giải quyết tình trạng thiếu nhất quán trong việc định danh và phân loại truyện cổ Phật giáo ở Việt Nam; xây dựng tiêu chí phân biệt giữa truyện cổ Phật giáo và truyện cổ mang màu sắc Phật giáo; hệ thống hóa 130 bản kể và ứng dụng phương pháp type - motif để phân tích các cốt truyện tiêu biểu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết tôn giáo dân gian (Folk Religion): Tiếp cận theo định nghĩa của Don Yoder, tôn giáo dân gian là tổng thể các quan điểm và thực hành tôn giáo tồn tại trong nhân dân, song hành và khác biệt với các dạng thức nghi lễ và thần học chặt chẽ của tôn giáo chính thức.
- Đặc trưng Phật giáo Việt Nam: Dựa trên các nghiên cứu của Nguyễn Lang, Nguyễn Tài Thư, Trần Ngọc Thêm, Minh Chi, Nguyễn Duy Hinh, luận án xác định 3 đặc điểm nền tảng của Phật giáo Việt Nam:
- Tính bản địa: Phật giáo được tiếp nhận và biến đổi để thích nghi với văn hóa bản địa của cư dân nông nghiệp lúa nước.
- Sự hỗn dung tôn giáo: Phật giáo dung hợp chặt chẽ với tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng thờ Mẫu, Tứ Pháp, Thạch Quang Phật), dung hợp với Đạo giáo (Chử Đồng Tử, Mật tông kết hợp phù chú ma thuật) và Nho giáo (tinh thần Tam giáo đồng nguyên thời Lý - Trần).
- Tính dân gian: Phật giáo dân gian hướng vào hiện thực, gắn với nhu cầu thực tiễn (cầu con, cầu may, trừ tai, trường thọ) thay vì triết lý giải thoát khổ đau trừu tượng của Phật giáo nguyên thủy.
- Lý thuyết loại hình học văn học dân gian (Type và Motif): Vận dụng bảng tra cứu type truyện của Aarne - Thompson (A-T) và bảng chỉ mục motif của Stith Thompson để nhận diện cấu trúc cốt truyện và các đơn vị tự sự.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích văn bản 130 bản kể truyện cổ Phật giáo đã xuất bản từ năm 1886 đến 2013 để xác định nội dung, cấu trúc và đặc điểm nghệ thuật.
- Phương pháp thống kê: Định lượng tần số xuất hiện của các yếu tố Phật giáo, nhân vật và biểu tượng tôn giáo trong tư liệu khảo sát.
- Phương pháp loại hình học: Phân chia, quy nhóm các truyện kể thành các type và motif tương ứng; đặt các type truyện cổ Phật giáo Việt Nam trong tương quan với hệ thống type truyện quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức của văn học dân gian với tôn giáo học, lịch sử học, dân tộc học và văn hóa học nhằm bóc tách các tầng trầm tích văn hóa trong truyện kể.
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu khảo sát chính bao gồm 130 đơn vị bản kể truyện cổ dân gian thuộc các tập sách: Cổ tích và truyền thuyết An Nam (A. Landes), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi), Việt Nam văn học toàn thư (Hoàng Trọng Miên), Tổng tập văn học dân gian người Việt (các tập 4, 6, 7, 8), cùng các tuyển tập truyện cổ dân gian địa phương (Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh...) và truyện cổ các dân tộc thiểu số (Chăm, Khơ-me, Sán Chay).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái luận về Phật giáo, yếu tố Phật giáo và truyện cổ Phật giáo ở Việt Nam
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết và lịch sử vấn đề, tập trung vào các nội dung chính:
- Quá trình du nhập và đặc điểm Phật giáo Việt Nam: Đạo Phật vào Việt Nam từ đầu Công nguyên qua hai con đường: đường biển trực tiếp từ Ấn Độ lập nên trung tâm Luy Lâu (danh xưng chuyển âm trực tiếp thành Bụt, với các nhà sư như Khâu-đà-la, Ma-ha-Kỳ-vực, Khương Tăng Hội, Mâu Tử) và đường bộ từ Trung Hoa với ba tông phái chính (Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông, danh xưng chuyển thành Phật). Phật giáo Việt Nam mang ba đặc điểm cốt lõi: tính bản địa, sự hỗn dung tôn giáo và tính dân gian.
- Các yếu tố Phật giáo trong truyện cổ dân gian:
- Nhân vật Phật giáo: Bụt/Phật, tăng ni, sư sãi. Nhân vật có thể đóng vai trò nhân vật chính (truyện sự tích, gương tu hành), trợ thủ thần kỳ (trong truyện sinh hoạt, cổ tích), hoặc nhân vật phản diện/gây hại (nhà sư tha hóa, giả mạo).
- Quan niệm và thực hành: Quan niệm nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, từ bi hỉ xả, bố thí, thế giới địa ngục - niết bàn; các sinh hoạt như hội chùa, cúng dường, hội vô già, lễ dựng phướn.
- Biểu tượng Phật giáo: Xuất hiện trong 22/130 bản kể khảo sát (chiếm 16,9%).
| Biểu tượng Phật giáo |
Số lượng bản kể xuất hiện |
Tỷ lệ xuất hiện (%) |
| Áo cà sa (Liên hoa y) |
7 |
31,8% |
| Cây bồ đề (chuỗi hạt, lá bồ đề) |
4 |
18,2% |
| Biểu tượng Tâm (trái tim) |
4 |
18,2% |
| Tòa sen / Hoa sen |
3 |
13,6% |
| Cây gậy tích trượng |
3 |
13,6% |
| Cây phướn nhà chùa |
2 |
9,1% |
| Tổng số bản kể có biểu tượng |
22 |
100% |
- Phân định truyện cổ Phật giáo và truyện cổ có yếu tố Phật giáo:
| Yếu tố Phật giáo |
Truyện cổ Phật giáo |
Truyện cổ có ảnh hưởng/yếu tố Phật giáo |
| Các nhân vật Phật giáo |
Là nhân vật chính |
Là nhân vật phụ, nhân vật phù trợ cho nhân vật chính |
| Quan niệm & hình thức thực hành |
Là nội dung phản ánh chính hoặc mục đích hướng tới |
Là phương tiện hoặc là phông nền diễn ra câu chuyện |
| Các biểu tượng Phật giáo |
Có xuất hiện |
Không xuất hiện |
| Vai trò nhà tu hành |
Đậm nét |
Mờ nhạt |
- So sánh trường hợp Type 510A: So sánh truyện Tấm Cám (Việt Nam) và Con cá vàng (Thái Lan) để làm rõ ranh giới thể loại:
- Tấm Cám: Bụt chỉ đóng vai trò trợ thủ dân gian hóa, sự hóa thân phản ánh quan niệm linh hồn bất tử nguyên thủy, kết thúc hướng tới hạnh phúc hiện sinh của con người $\rightarrow$ Thuộc loại truyện cổ mang màu sắc Phật giáo.
- Con cá vàng: Đức Phật (Pach Cheka Budda) xuất hiện ở cuối truyện giải thích toàn bộ chuỗi xung đột của các nhân vật (Kanitha, U'ay, Séthi) theo quy luật nhân quả, tiền kiếp trả nợ kiếp này để dứt trừ nghiệp báo $\rightarrow$ Thuộc loại truyện cổ Phật giáo.
Chương 2: Nhận diện truyện cổ Phật giáo Việt Nam
Chương 2 đi sâu miêu tả và nhận diện diện mạo thể loại của truyện cổ Phật giáo Việt Nam trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật:
- Nội dung truyện cổ Phật giáo Việt Nam:
- Truyện kể về sự tích Phật và các Phật tử trên đường tu hành: Kể về hành trình vượt qua cám dỗ, thử thách khổ hạnh để chứng quả bồ đề hoặc đắc đạo thành Phật/Thánh.
- Truyện phản ánh triết lý, giáo lý Phật giáo: Tập trung thể hiện luật nhân quả, nghiệp báo luân hồi, tư tưởng từ bi, phóng sinh, hồi đầu thị ngạn (Cái cân thủy ngân, Sự tích cá he, Mối thù truyền kiếp).
- Truyện lý giải nguồn gốc các địa danh và lễ hội tôn giáo ở Việt Nam: Gắn liền với sự tích các ngôi chùa cổ, danh thắng Phật giáo và tập tục tế lễ (Sự tích chùa Dâu và Tứ Pháp, Sự tích cây phướn chùa Nành, Sự tích đèo Phật Tích).
- Nghệ thuật truyện cổ Phật giáo Việt Nam:
- Đặc điểm cấu tạo cốt truyện: Kết cấu tuyến tính theo hành trình thử thách đạo đức và tâm linh, kết cấu nhân - quả.
- Sự biến đổi nhân vật: Nhân vật trải qua bước ngoặt chuyển hóa tâm tính (từ người trần/kẻ ác ngộ đạo thành Phật, hoặc từ nhà tu hành phạm giới bị đọa đày hóa kiếp thành con vật, cây cỏ).
- Không gian và thời gian nghệ thuật: Không gian dung hợp giữa cõi thực (làng xã, chùa chiền) và cõi thiêng (cõi Tây Trúc, Niết bàn, cõi Địa ngục); thời gian mang tính chu kỳ luân hồi kết hợp thời gian lịch sử cụ thể.
- Yếu tố thần kỳ: Đóng vai trò là phương tiện chứng ngộ, biểu thị quyền năng của Phật pháp và luật nghiệp báo.
- Đặc trưng và vị trí của truyện cổ Phật giáo Việt Nam:
- Phản ánh sự dung hợp sâu sắc giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa và Đạo giáo/Nho giáo.
- Thể hiện xu hướng bản địa hóa mạnh mẽ về hình tượng nhân vật và quan niệm đạo đức.
- Định vị truyện cổ Phật giáo là một tiểu loại độc lập trong hệ thống truyện cổ tôn giáo, đồng thời là một bộ phận hữu cơ cấu thành dòng chảy tự sự dân gian Việt Nam.
Chương 3: Một số type truyện cổ Phật giáo Việt Nam tiêu biểu
Chương 3 tiến hành khảo sát chuyên sâu 3 type truyện tiêu biểu theo phương pháp type và motif:
Ba type truyện cổ Phật giáo tiêu biểu (Chương 3):
- Type truyện Nhà sư và hành trình đến đất Phật:
- Nội dung: Khảo sát các bản kể như Sự tích con bìm bịp, Con bìm bịp, Sự tích cái bình vôi... Kể về nhà sư tu hành lâu năm quyết chí đi Tây Trúc tìm Phật để thành đạo. Trên đường đi gặp kẻ tội đồ muốn sám hối; nhà sư truyền đạt sai lời Phật khiến kẻ sám hối mổ bụng dâng tim đắc đạo trước, còn sư nghi ngờ nên bị biến thành loài vật.
- Kết cấu: Gồm 3 chặng cơ bản: (1) Nhà sư lên đường đi tìm đất Phật; (2) Gặp gỡ thử thách và kẻ sám hối; (3) Kết cục chứng ngộ tại đất Phật và sự hoán đổi vị trí đắc đạo.
- Ý nghĩa: Thể hiện sâu sắc triết lý Thiền tông "Phật tại tâm", phê phán lối tu chấp vào hình thức và công phu máy móc, đề cao sự chân thành tuyệt đối của cái Tâm.
- Type truyện Nhà sư và cô gái:
- Nội dung: Khảo sát các bản kể về sự va chạm giữa nhà tu hành và nữ giới (như Thủ Huồn, Sự tích chim tu hú, Sự tích con nhái...).
- Kết cấu: (1) Nhà tu hành đối diện với cám dỗ nhục dục hoặc nghi án tình ái; (2) Phản ứng và sự vượt qua thử thách hoặc sa ngã; (3) Phán xét tâm linh và sự giải thoát/biến hóa.
- Ý nghĩa: Phản ánh những khó khăn, giằng xé trong quá trình tu dưỡng giới luật; khẳng định lòng kiên định đạo hạnh đồng thời thể hiện cái nhìn nhân văn, thấu hiểu của dân gian đối với những yếu đuối của con người.
- Type truyện Nguồn gốc tục dựng cây nêu ngày Tết:
- Nội dung: Kể về thời kỳ quỷ chiếm đoạt toàn bộ đất đai, con người phải làm rẽ và chịu sự bóc lột nghiệt ngã ("ăn ngọn giấu gốc", "ăn gốc giấu ngọn", "ăn cả gốc lẫn ngọn"). Phật xuất hiện giúp con người dùng bóng chiếc áo cà sa treo trên ngọn tre để mở rộng diện tích đất giành lại từ tay quỷ, đày quỷ ra biển Đông. Quỷ xin mỗi năm Tết được vào đất liền thăm phần mộ tổ tiên, dân gian dựng nêu để quỷ không dám xâm phạm.
- Kết cấu: (1) Xung đột đất đai giữa quỷ và người; (2) Đức Phật ra tay can thiệp và chỉ dẫn mẹo lừa không gian; (3) Đánh đuổi quỷ và thỏa ước ngày Tết; (4) Tục dựng cây nêu trừ tà.
- Ý nghĩa: Giải thích nguồn gốc phong tục dân gian ngày Tết Nguyên đán; biểu dương trí tuệ và quyền năng của Phật pháp; thể hiện tinh thần từ bi bao dung ngay cả với quỷ dữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt tư liệu
- Luận án đã sưu tầm, tập hợp và lập danh mục hệ thống 130 bản kể truyện cổ Phật giáo Việt Nam từ các ấn phẩm xuất bản từ năm 1886 đến 2013, cung cấp nguồn tư liệu đầy đủ, minh chứng cho sự tồn tại khách quan, phong phú của mảng truyện này.
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Xác lập ranh giới khái niệm: Phân biệt rành mạch giữa truyện cổ Phật giáo (nơi yếu tố Phật giáo giữ vai trò trung tâm, chi phối kết cấu và chủ đề) và truyện cổ mang màu sắc Phật giáo (yếu tố Phật giáo chỉ là phông nền hoặc phương tiện phụ trợ).
- Định vị thể loại: Xác định truyện cổ Phật giáo là một bộ phận hợp thành của truyện cổ tôn giáo, khẳng định sự tồn tại của mạch nguồn văn học tôn giáo dân gian trong nền văn học dân gian Việt Nam.
- Ứng dụng loại hình học quốc tế: Thử nghiệm đối chiếu các type truyện cổ Phật giáo Việt Nam với hệ thống bảng tra type và motif của Aarne - Thompson, góp phần hội nhập phương pháp nghiên cứu folklore Việt Nam với quốc tế.
Kiến nghị và đề xuất
- Đề xuất mở rộng nghiên cứu dòng văn học tôn giáo dân gian (bao gồm cả truyện cổ Đạo giáo, Thiên Chúa giáo...) trong folklore học Việt Nam.
- Kiến nghị tiếp tục công tác sưu tầm điền dã mảng truyện cổ Phật giáo trong môi trường diễn xướng dân gian tại các làng quê, lễ hội chùa chiền.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Tư liệu khảo sát của luận án giới hạn trong phạm vi 130 bản kể đã được văn bản hóa trong các công trình xuất bản từ 1886 đến 2013; chưa bao quát toàn bộ các dị bản còn lưu truyền thuần túy bằng phương thức truyền khẩu tại các địa phương.
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào 4 dân tộc (Kinh, Khơ-me, Chăm, Sán Chay), chưa mở rộng sang tất cả các dân tộc thiểu số khác có tiếp xúc với Phật giáo.
- Việc đối chiếu type và motif theo bảng tra quốc tế Aarne - Thompson mới dừng lại ở mức thử nghiệm trên 3 type tiêu biểu tại Chương 3.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng tra cứu, định danh mã số type và motif cho toàn bộ 130 bản kể truyện cổ Phật giáo Việt Nam theo hệ thống phân loại Aarne - Thompson - Uther (ATU).
- Nghiên cứu so sánh truyện cổ Phật giáo Việt Nam với truyện cổ Phật giáo các nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á (Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc).
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn và Văn học dân gian: Cung cấp khung lý thuyết về phân loại truyện cổ tôn giáo, phương pháp nghiên cứu type - motif và nguồn tư liệu 130 bản kể truyện cổ Phật giáo.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu Tôn giáo học, Văn hóa học: Tham khảo cơ sở dữ liệu về sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng bản địa, tiến trình dân gian hóa tôn giáo qua lăng kính folklore.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống: Tham khảo các phân tích về sự tích địa danh, nguồn gốc lễ hội và phong tục tập quán liên quan đến Phật giáo Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án căn cứ vào tiêu chí nào để phân biệt truyện cổ Phật giáo và truyện cổ mang màu sắc Phật giáo?
Luận án căn cứ vào vị trí và vai trò của yếu tố Phật giáo trong bản thân văn bản truyện kể:
- Truyện cổ Phật giáo: Nhân vật Phật giáo là nhân vật chính; giáo lý và thực hành Phật giáo là nội dung phản ánh chính hoặc mục đích cốt truyện hướng tới; biểu tượng Phật giáo có xuất hiện; vai trò của nhà tu hành đậm nét.
- Truyện cổ mang màu sắc Phật giáo: Nhân vật Phật giáo chỉ là nhân vật phụ/phù trợ; giáo lý chỉ đóng vai trò phương tiện hoặc phông nền; không có biểu tượng Phật giáo; vai trò nhà tu hành mờ nhạt.
2. Vì sao truyện Tấm Cám được xếp vào truyện mang màu sắc Phật giáo, còn truyện Con cá vàng (Thái Lan) là truyện cổ Phật giáo?
Cả hai truyện cùng thuộc type 510A, nhưng:
- Trong Tấm Cám, hình tượng Bụt là ông Bụt dân gian hóa (đóng vai trò như một vị thần ban thưởng/trợ giúp), sự biến hóa của Tấm gắn với quan niệm linh hồn bất tử nguyên thủy, và kết thúc hướng tới hạnh phúc gia đình trong kiếp sống hiện sinh.
- Trong Con cá vàng, Đức Phật (Pach Cheka Budda) xuất hiện ở kết truyện giải thích toàn bộ sự việc là kết quả của luật nhân quả tiền kiếp và chuỗi nghiệp báo luân hồi, hướng con người tới việc dứt trừ ân oán để giải thoát lên cõi cực lạc.
3. Tần số xuất hiện của các biểu tượng Phật giáo trong tư liệu khảo sát của luận án là bao nhiêu?
Trong 130 bản kể khảo sát, biểu tượng Phật giáo chỉ xuất hiện trong 22 bản kể (tỷ lệ 16,9%), gồm:
- Áo cà sa: 7 bản kể (31,8%)
- Cây bồ đề (chuỗi hạt, lá bồ đề): 4 bản kể (18,2%)
- Biểu tượng Tâm (trái tim): 4 bản kể (18,2%)
- Tòa sen / hoa sen: 3 bản kể (13,6%)
- Cây gậy tích trượng: 3 bản kể (13,6%)
- Cây phướn: 2 bản kể (9,1%)
4. Ba đặc điểm cơ bản của Phật giáo Việt Nam được tác giả xác định làm nền tảng phân tích là gì?
Tác giả tổng hợp 3 đặc điểm cơ bản:
- Tính bản địa: Biến đổi giáo lý cho phù hợp với tư duy nông nghiệp lúa nước và tâm thức người Việt.
- Sự hỗn dung tôn giáo: Dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng dân gian (Tứ Pháp, thờ Mẫu), Đạo giáo (Chử Đồng Tử, phép thuật Mật tông) và Nho giáo (Tam giáo đồng nguyên).
- Tính dân gian: Dòng Phật giáo dân gian hướng tới đời sống thực tiễn, cầu phúc cứu độ hiện sinh, khác biệt với tính chất hàn lâm của Phật giáo cung đình hay giáo hội chính thống.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo hệ thống hóa mảng truyện cổ Phật giáo trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam trên cơ sở khảo sát 130 bản kể từ năm 1886 đến 2013. Tác giả đã xác lập hệ tiêu chí phân định rõ ràng giữa truyện cổ Phật giáo và truyện cổ mang màu sắc Phật giáo, đồng thời làm rõ ba đặc trưng cốt lõi về tính bản địa, sự hỗn dung và tính dân gian của mảng truyện này. Việc kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành và loại hình học type - motif (Aarne - Thompson) trên 3 type truyện tiêu biểu đã khẳng định vị trí độc lập của truyện cổ Phật giáo trong hệ thống tự sự dân gian, mở ra hướng tiếp cận học thuật đối với dòng văn học tôn giáo dân gian tại Việt Nam.