Chương 1. Giới thiệu Trong chương này, tôi giới thiệu về đề tài, trình bày tầm quan trọng và những mặt khó khăn hiện nay trong việc tìm kiếm ảnh dựa trên nội dung. Đồng thời giới thiệu mục tiêu, nội dung và giới hạn nghiên cứu của đề tài. Cơ sở lý thuyết và các công trình nghiên cứu liên quan 2 Trong chương này, tôi giới thiệu về hệ thống tìm kiếm ảnh dựa trên nội dung.
Tìm hiểu một số phương pháp tìm kiếm đã có bao gồm các phương pháp trích rút đặc trưng ảnh dựa trên màu sắc, hình dạng, kết cấu, đặc trưng bất biến cục bộ. Đánh giá ưu nhược điểm của các phương pháp nêu trên. Phương pháp truy vấn ảnh đề xuất Trong chương này, tôi đề xuất phương pháp truy vấn ảnh sử dụng đặc trưng bất biến cục bộ SURF kết hợp phương pháp trích đặc trưng màu sắc Color Moment và phương pháp trích rút đặc trưng kết cấu Gabor Filter, đồng thời áp dụng mô hình Bag of Feature để giảm chiều vectơ đặc trưng ảnh và sử dụng giải thuật Randomized KD-Tree để đánh chỉ mục tập cơ sở dữ liệu ảnh. Đánh giá ưu nhược điểm của phương pháp đề xuất.
Hiện thực và đánh giá Trong chương này, tôi tiến hành hiện thực phương pháp đề xuất và đánh giá phương pháp đề xuất trên một tập dữ liệu ảnh chuẩn, đồng thời so sánh với phương pháp tìm kiếm hiện có trên cùng tập ảnh này để đánh giá một cách khách quan độ hiệu quả của phương pháp đề xuất. Kết luận Trong chương này, tôi trình bày kết quả đạt được của luận văn, những đóng góp chính của luận văn và hướng phát triển trong tương lai. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết Hiện nay hệ thống tìm kiếm dựa trên văn bản bằng cách sử dụng từ khóa chú thích vào hình ảnh có một số hạn chế sau: việc tạo từ khóa cho một số lượng lớn ảnh là vô cùng tốn thời gian, từ khóa ngắn thì không thể mô tả hết về những thông tin trực quan của ảnh, đồng thời văn bản cũng không thích hợp cho việc so sánh độ tương đồng trực quan, những mô tả bằng văn bản chỉ phản ánh quan điểm chủ quan của người chú thích chứ không phải người dùng cuối tương tác với hệ thống, nhưng việc nhận thức là một vấn đề chủ quan của từng người dẫn đến độ chính xác không cao.
Do những hạn chế trên đã dẫn đến sự ra đời của hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung. Giới thiệu khái niệm truy vấn ảnh dựa trên nội dung Truy vấn ảnh dựa trên nội dung (CBIR) là phương pháp truy vấn dựa trên các đặc trưng trực quan cơ bản của hình ảnh như: màu sắc, kết cấu, hình dạng hoặc đặc trưng bất biến cục bộ. Do đó việc truy vấn chỉ dựa trên những đặc trưng vốn có của chính hình ảnh đó mà không cần can thiệp bằng các phương pháp đánh chú thích vào hình ảnh. Mỗi hình ảnh trong tập cơ sở dữ liệu sẽ được trích rút thông tin đặc trưng và dùng những thông tin này trong việc tìm kiếm và so trùng ảnh.
Mô hình hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung Hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung bao gồm những thành phần chính sau đây và được biểu diễn như hình 2-1: • Trích rút thông tin đặc trưng ảnh (Feature Extraction). • So sánh độ tương đồng giữa hai đặc trưng ảnh (Similarity Matching) • Đánh chỉ mục cơ sở dữ liệu ảnh (Image Database Indexing). • Ngoài ra còn có thành phần phân loại ảnh (Image Classification) giúp tăng hiệu quả tìm kiếm. 4 Hình 2-1 Mô hình hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung cơ bản [1] 2.
Phương pháp trích rút và so trùng đặc trưng Ý tưởng của phương pháp trích rút đặc trưng ảnh là sử dụng các giá trị điểm ảnh để trích rút các đặc trưng cấp thấp chẳng hạn như đặc trưng màu sắc, hình dạng, kết cấu và kết hợp chúng thành một đặc trưng tổng quát cho nội dung hình ảnh. Sự thành công của một hệ thống CBIR liên quan chặt chẽ đến chất lượng của các đặc trưng được trích rút. Nếu hệ thống không thể xây dựng được một mô tả tốt về nội dung hình ảnh thì hình ảnh tương tự có thể được coi là khá khác nhau, do đó hình ảnh thu được sẽ không đáp ứng được mong đợi của người dùng. Tuy nhiên, do vấn đề khoảng cách ngữ nghĩa, ngay cả những hệ thống CBIR tốt nhất cũng không nắm bắt tốt được những thông tin hình ảnh như con người.
Khi các vectơ đặc trưng được đại diện cho hình ảnh thì hai hình ảnh có thể được so sánh độ tương đồng hoặc độ khác nhau bằng cách so sánh hai vectơ đặc trưng để thực hiện truy vấn hình ảnh. Về cơ bản, phương pháp để so sánh hình ảnh là bằng cách đo khoảng cách giữa hai vectơ đặc trưng của chúng. Ví dụ, hai hình ảnh được so sánh bằng cách tính toán khoảng cách giữa hai vectơ đặc trưng, khoảng cách càng ngắn càng giống nhau và sự khác biệt nhỏ hơn. Đo khoảng cách thường được sử dụng là khoảng cách Euclidean: 𝐷 (𝐴, 𝐵) = √∑(𝐴(𝑖) − 𝐵(𝑖))2 (2.
Các chức năng cơ bản của hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung Những chức năng chính của một hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung bao gồm: ▪ Phân tích tập dữ liệu ảnh và biểu diễn dưới dạng tập vectơ đặc trưng. ▪ Đánh chỉ mục tập vectơ đặc trưng. ▪ Phân tích ảnh truy vấn và biểu diễn thành vectơ đặc trưng phù hợp với tập dữ liệu ảnh lưu trữ. ▪ Xác định phương pháp so trùng ảnh truy vấn với ảnh lưu trữ trong cơ sở dữ liệu.
▪ Thu thập phản hồi người dùng đối với mỗi lần truy vấn nhằm cũng cố ngữ nghĩa cho lần truy vấn tiếp theo. Thu thập phản hồi là một cơ chế tương tác để người dùng dần dần tinh chỉnh kết quả tìm kiếm bằng cách đánh dấu các hình ảnh trong kết quả là "liên quan" hoặc "không liên quan" cho truy vấn tìm kiếm và lặp lại tìm kiếm bằng thông tin bổ sung này. Thông qua phản hồi liên quan, người sử dụng có thể tìm được hình ảnh mong muốn của mình bằng cách tương tác với hệ thống. Ứng dụng của hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung Sau đây là một số ứng dụng của CBIR trong thực tế: ▪ Web tìm kiếm: Một số lượng lớn các hình ảnh kỹ thuật số được truy cập bởi những người sử dụng internet do đó hệ thống CBIR có thể giúp người sử dụng tìm kiếm một cách hiệu quả những gì họ đang tìm kiếm.
▪ Tìm kiếm ảnh y tế: Hầu hết hình ảnh y tế đã được lưu trữ bởi các bệnh viện. Do đó, hệ thống CBIR thể được sử dụng để hỗ trợ tìm kiếm các trường hợp tương tự đã xảy ra trong quá khứ. ▪ Báo chí và quảng cáo: Các sản phẩm, hình ảnh, video trong những tờ báo, tạp chí hoặc TV được truy vấn bằng cách sử dụng hệ thống CBIR. ▪ Quân sự: Có thể dung CBIR để truy vấn cơ sở dữ liệu của tất cả hình ảnh trong các ứng dụng quân sự như dữ liệu viễn thám, vũ khí, máy bay, nhận dạng mục tiêu tự động, v.
▪ Sở hữu trí tuệ: Đa số các công ty có hình ảnh thương hiệu riêng, bất cứ khi nào một hình ảnh thương hiệu mới được đăng ký, nó phải được so sánh với hình ảnh thương hiệu hiện tại để loại bỏ trùng lặp. ▪ Phòng chống tội phạm: Sau khi xảy ra vụ án tội phạm, cơ quan thực thi pháp luật sẽ tìm kiếm bằng chứng trong kho lưu trữ của họ. Tài liệu lưu trữ thường bao gồm hình ảnh chứng cứ, dấu vân tay, dấu lốp, dấu giày v.v trong những 6 trường hợp gần đây. Do đó, một hệ thống CBIR có thể giúp họ tìm ra những bằng chứng liên quan.
Một số hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung Dưới đây là một số hệ thống truy vấn ảnh dựa trên nội dung: ▪ Hệ thống QBIC (Query by Image Content): Đây là bản thương mại được phát triển bởi IBM. Hệ thống này sử dung các đặc trưng màu sắc, hình dạng và kết cấu để đại diện cho hình ảnh, đồng thời sử dụng giải thuật R-Tree để đánh chỉ mục đa chiều. ▪ Hệ thống Virage: Đây cũng là một hệ thống tìm kiếm ảnh thương mại được phát triển bởi Virage Inc. Virage là một hệ thống dựa trên module cho phép các lập trình viên có thể tạo thêm module của riêng họ.
▪ Hệ thống Photobook: Đây là một hệ thống thử nghiệm được phát triển bởi một nhóm nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts. Việc phát hành ban đầu được thiết kế để hỗ trợ người sử dụng trong việc chú thích. Tìm kiếm được hiện thực bằng cách sử dụng đặc trưng hình dạng hai chiều và đặc trưng kết cấu. ▪ Hệ thống VisualSeek: VisualSeek được phát triển tại Đại học Columbia.
Hệ thống truy vấn hình ảnh dựa trên mối quan hệ không gian của vùng ảnh. Các công trình nghiên cứu liên quan 2. Các đặc trưng cấp thấp của hình ảnh 2. Đặc trưng màu sắc Đặc trưng màu sắc là một đặc trưng trực quan cấp thấp rất cơ bản được sử dụng để tìm kiếm hình ảnh dựa trên sự tương đồng về màu sắc.
Hình ảnh được phân biệt chủ yếu dựa trên các đặc điểm màu sắc bởi con người, do đó đặc trưng này tương đối mạnh mẽ và không phụ thuộc vào kích thước hình ảnh, hướng hay thay đổi tỉ lệ. Dưới đây là một vài phương pháp khác nhau trong việc trích rút đặc trưng màu sắc: ▪ Phương pháp Histogram. ▪ Phương pháp Auto Correlogram. ▪ Phương pháp Color Moment.
Đặc trưng hình dạng Hình dạng có thể được coi như một hình bóng của vật thể, do đó hình dạng cung cấp thông tin khá quan trọng, do con người có khả năng nhận ra vật thể thông qua hình dạng của chúng hơn là màu sắc. Đặc trưng hình dạng là một trong những đặc trưng trực quan cấp thấp được sử dụng để đại diện và tìm kiếm hình ảnh. Đặc trưng hình dạng rất cần thiết vì nó đại diện cho các khu vực quan tâm trong hình ảnh. 7 Mỗi đối tượng hoặc vùng trong một hình ảnh được lập chỉ mục bởi vectơ đối tượng hình dạng hoặc các vùng liên quan.
Vectơ đặc trưng hình dạng là bất biến đối với phép dịch, xoay và thay đổi tỷ lệ. Có rất nhiều ứng dụng hình ảnh sử dụng đặc trưng hình dạng phân tích hình ảnh. Để xác định hình dạng, chúng ta phải tìm đâu là các cạnh của nó, đó là nơi xảy ra thay đổi lớn về cường độ xám.