Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VHDN VÀ TRÁCH NHIỆM CUA VĂN PHÒNG TRONG XÂY DUNG VA TO CHỨC THỰC HIỆN VHDN 1. Tống quan về Văn hóa doanh nghiệp 1. Văn hóa Có thé nói, văn hóa được ví như dòng chảy xuyên suốt ngay từ thud sơ khai của loài người, lúc loài người bắt đầu có nhận thức, song hành liên kết sâu sắc không thê tách rời cùng quá trình hình thành và phát triển của con người.
Văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thưở bình minh của xã hội loài người [ 11. Ở phương Đông, các nước châu A chịu ảnh hưởng rất lớn của triết lý, đạo lý sâu sắc từ nhiều nền văn hoá, văn minh nỗi tiếng. Khái niệm “Văn hóa” được ghép từ hai từ là từ VĂN [#2] và từ HOÁ [4E]. Trong tiếng Việt gốc Hán: VĂN là chữ, là nét vẽ, là vẻ đẹp, là cái hay, cái tốt.
HOÁ là hành động mang tính biến đổi, giáo dục, cảm hoá giúp con người trở nên hướng thiện, hướng đến những điều có ích, có ý nghĩa. Như vậy, có thé hiểu “văn hóz” là dùng những điều tốt đẹp (về tri thức, nhân cách, trí tuệ) dé giáo hoá con người, dé con người trở nên tốt đẹp hơn và mang bản sắc riêng. Ở phương Tây, “văn hóa” trong tiếng Latinh là “Cultus” - có nghĩa là gieo trồng ruộng dat, trồng trọt nhằm phát triển nông nghiệp. “Cultus” sau đó được mở rộng trong lĩnh vực xã hội với nghĩa là vun trồng, giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, khả năng của con người.
Trong lịch sử phát triển của phương Tây, văn hoá đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động bồi dưỡng, vun đắp giá trị tỉnh thần và nhân cách con người. Những công trình kiến trúc tiêu biểu và nổi trội nhất thể hiện giá trị độc đáo của văn hoá phương Tây có thê kế đến là: kiến trúc Hy Lạp, La Mã cổ đại; các nghiên cứu và kiến thức khoa học đồ sộ trong lĩnh vực: todn học; hoá học; vật lý. các tác pham văn hoc, hội hoa, điện ảnh. Như vậy, khái niệm VAN HÓA ở các nước phương Tây cũng như các nước phương Đông đều hiểu theo nghĩa: Văn hoá là sự giáo dục, là sự vun trồng nhân cách con người, là chú trọng hoạt động bôi dưỡng, phát triển giúp cho cuộc sống của con người trở nên tốt đẹp hơn [15.7] 12 Nhắc đến VĂN HOA, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vi /é sinh ton cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát mình đó tức là văn hóa. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu câu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tôn ” [10, Tr. VAN HOA trong Co sở Văn hóa Việt Nam theo định nghĩa của tác giả Tran Ngọc Thêm đã phân tích được bản chất của văn hoá: “Van hod là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hộ¡”(14. Tổng giám đốc UNESCO, Federico Mayor định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sảng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các gid trị, các truyền thong và cách thể hiện. Đó là những yếu tố xác định đặc tinh riêng của mỗi dân tộc [9]” Định nghĩa nay khang định văn hoá là tong thé những hoạt động sáng tao của con người, hình thành nên các giá tri, các quan niệm, thói quen truyền thống, các chuẩn mực xã hội. Những giá trị vật chất và tinh thần này được kết tinh, lắng đọng từ thực tiễn cuộc sống của con người, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, mang tính đặc thù của mỗi cộng đồng, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc. Nhìn chung, dù ở đâu, văn hóa cũng mang nghĩa căn bản là giáo dục, cảm hóa, hướng tới hoàn thiện nhân cách con người; làm cho con người giàu nhân tính, xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Văn hóa là sản phẩm của con người, được tạo ra trong qua trình lao động (tr lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường xung quanh (môi tu nhiên và xã hội), mang tinh cách riêng của từng tộc người. Văn hóa là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa con người và các loài động vật khác. 13 Trong công trình này “văn hóa” được tác giả sử dụng với ý hiểu: VAN HÓA là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong mỗi quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và con người với xã hội. Văn hoá gắn bó mật thiết với con người, thấm sâu vào mọi hoạt động và lĩnh VỰC cua con người.
Để đưa ra những biện pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam phù hợp với con người Việt Nam nói riêng cần phải hiểu các đặc điểm văn hóa & con người Việt Nam. Từ đó khuyến khích, tạo điều kiện phát triển những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm trong văn hóa làm việc của người Việt. Văn hoá do con người kiến tạo nhưng không phải hoạt động nào của con người cũng đều là văn hoá. Chỉ những hoạt động tạo thành giá trị, được chọn lọc, được cộng đồng chấp nhận, được duy trì và ôn định qua thời gian thì mới là văn hoá.
Văn hoá không chỉ phản ánh cách mà cộng đồng sống, tư duy, tương tác với nhau và với thế giới bên ngoài; mà còn ảnh hưởng đến cách hành xử, giao tiếp của Con người va thể hiện sự đa dạng của con người trên thế gidi. Doanh nghiệp Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Doanh nghiệp được hình thành với mục đích chính là tạo ra lợi nhuận bang cach cung cap san phẩm hoặc dich vụ cho thị trường. Doanh nghiệp có nhiều hình thức khác nhau, nhưng vẫn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, phải chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến môi trường, đạo đức, xã hội.
Theo khoản 10 điều 4, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 có quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ky thành lập theo quy định cua pháp luật nhằm mục đích kinh doanh ”. Điều này có nghĩa doanh nghiệp được coi là một thực thể pháp lý riêng biệt, có khả năng pháp nhân tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi của mình và có thể sở hữu tài sản, ký kết hợp đồng, tham gia các giao dịch kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải đăng ký kinh doanh với cơ quan quản ly nhà nước có thấm quyền dé được công nhận và hoạt động hop 14 pháp. Doanh nghiệp có thé là một cá nhân hoặc một tô chức và có thé hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
Có thé nói, trong hiểu biết của chúng ta, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa khá rộng, đầy đủ và chặt chẽ. Có thể hiểu một cách tổng quát: DOANH NGHIỆP là một tô chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, được thành lập dé thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp là có thé do cá nhân hoặc tô chức thành lập, hoạt động dựa trên mục tiêu về lợi nhuận kinh tế là chính. Có nhiều cách phân loại các loại hình doanh nghiệp khác nhau; dựa theo quy định của pháp luật tại Điều 1 Luật Doanh nghiệp 2020 thì ở nước ta hiện nay có 04 loại hình doanh nghiệp phô biến: Công ty TNHH; Công ty hợp danh; Công ty cổ phan; Doanh nghiệp tư nhân.
Dù hoạt động dưới hình thức nào thì doanh nghiệp cũng đều phải được con người cùng nhau thực hiện, cùng duy trì và phát triển t6 chức để doanh nghiệp đó ngày càng phát triển. Dé hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp rất cần có kế hoạch kinh doanh, chiến lược; chính sách tài chính, quản lý và nhân sự rõ ràng. Đặc biệt, doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến môi trường, đạo đức và xã hội. Văn hóa doanh nghiệp Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì không chỉ phải liên tục tìm tòi và đổi mới, mà còn phải tạo ra được một dấu ấn riêng.
Vì vậy, “Van hóa doanh nghiệp ” là khái niệm ngày càng được được các nhà quản trị doanh nghiệp chú trọng, quan tâm và sử dụng phổ biến. Bởi, văn hóa doanh nghiệp được xem là tài sản vô hình, đóng góp quan trọng vào sự thành công của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp xây dựng được một bản sắc văn hóa riêng, xây dựng được các giá trị đặc trưng riêng sẽ tạo được sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của minh. Van hóa doanh nghiệp là một khái niệm được ghép từ hai thuật ngữ đơn lẻ là VĂN HÓA và DOANH NGHIỆP; là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa với nhiêu cách tiêp cận khác nhau: 15 Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (2006): “Van Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghỉ mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết ”.TS Dương Thị Liễu (2009): “Van hóa doanh nghiệp là một hệ thong các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng cua doanh nghiệp ” [7].TS Nguyễn Mạnh Quân: “Van hoá doanh nghiệp bao gồm một hệ thong những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tu duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng thong nhất và có ảnh hưởng ở phạm vi rong đến cách thức và hành động cua từng thành viên ” [12, Tr.