CHƯƠNG 1: MOT SÓ VAN DE CHUNG VE TRÁCH NHIEM HÌNH SỰ CUA PHAP NHÂN THU ONG MAI 1. Khái niệm và đặc diem của trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại Pháp nhân là một tập thể, một tổ chức bao gồm nhiều người được pháp luật của một quốc gia trao tư cách dé tham gia vào các quan hé phép luật. Pháp nhân là một thực thé pháp lý đôc lập, mặc dù bản thân nó không thé hành: động cho chính minh ma chỉ có thé hành đông thông qua những con người cu thé.
Pháp nhân được coi là “cá thể riêng biệt”, có tải sản riêng độc lập với các tài sẵn của các thành viên, có quyên chiêm hữu, sử dụng, dinh đoạt tài sản và thực hiện hành vi pháp lý nhân danh mình. Đẳng thời, trách nhiệm của pháp nhân cũng phát sinh khi tham gia vào các quan hệ xã hội, trong đó có những trách nhiệm phát sinh từ các hành vi phạm tôi - TNHS. Xung quanh khái niém TNHS từ trước đến nay van tôn tại các quan điểm khác nhau, tiêu biểu như. Trong sách chuyên khảo “Các nghiên cứa chuyên khảo về Phần chung luật hình sự”, PGS.TSKH Lê Cam định nghĩa: TNHS “Tả hấu quả pháp Ij của việc thực hiện tôi phạm và được thé hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện tháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật Hình Si quy định”! Trong khi đó, theo nhà luật học Dao Trí Uc trong cuôn “M6 hình lý luận về Bộ luật hình sự Iiệt Nam”, TNHS “Tà hau quả pháp lý của việc phạm tội, thé hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà mse”.TS Trần V an Độ lại cho rằng TNHS “là hậu qua pháp I) của việc thực hiển tôi phạm mà ca nhân người phạm tội phải gánh chiu rước Nhà nước về hành vi phạm tôi của mình và được thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy đình của BLHS'3 "LE Cảm (2000), Các nghiên cứu ciuytên Kado về Phan chung luật hình sục (ap TH), Nxb Công mnhin din, Hà Nội, tréi * Đảo Trí Úc (1993), Mé nh: tý luận về Bộ luật hinh sic Việt Neon (Phần dung), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.
* Trân Vin Đô (2001), “Chương 5: Trích rhöềm hành sw”, Giáo minh luật lành sự Việt Nam (phẩn chang), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Ha Nội,tr91. 10 Có thé thay, các quan điểm đều thông nhất ở hậu quả pháp lý bat lợi và được áp dụng cho chính người phạm tội. Theo đó, TNHS việc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp ly bat lợi của người phạm tội trước Nhà nước trong tình trạng bi cưỡng chế do việc người đó đã thực hién tội pham. Nguoi pham tội có nghĩa vụ phải chiu các biện pháp cưỡng chế, chiu TNHS do Nhà nước áp dụng Như vậy, có thé đưa ra định nghĩa TNHS là một dang của trách nhiém pháp lý, là hậu quả pháp lý bat lợi mà chủ thé tôi pham phải gánh chịu trước Nhà nước do hành vi phạm tội ma chủ thé đó đã thực hiện và là kết quả của việc áp dụng các quy đính của pháp luật hình sự, được thê hiên ở bản án kết tội đã có luậu lực pháp luật của Toa án, hình phạt và một sô biên pháp cưỡng chế hình sự khác được quy đính trong Bồ luật hinh sự quy định.
Như vậy, các quan điểm trước đều thể hiên TNHS chỉ được áp dụng đối với cá nhân. Cùng với sự phát triển của xã hôi, quan niém chỉ có thể truy cứu TNHS đổi với cá nhân, trên cơ sở hành vi phạm tôi ma ho đã thực hiện không còn phù hợp và can phải có sự bd sung Dén BLHS nam 2015, nha làm luật Việt Nam đã quy đinh TNHS đối với pháp nhân phạm tôi. TNHS đổi với pháp nhân cũng có thé được hiểu tương tự như cá nhân, đó là hậu quả pháp ly bat loi được Nhà nước áp đặt đối với pháp nhân phát sinh từ một tdi pham đã được thực hién Theo quan niém truyền thống cơ sở của TNHS là việc người phạm tội thực hiện hành vi được luật hình sự quy định là tội pham. Nai cách khác, cơ sở TNHS là việc thực hiện hành vi cầu thành tội pham.
Dé truy cứu TNHS đổi với môt người, cơ quan tiên hành tổ tung phải chứng minh được hành vi phạm tội và yêu tổ lỗ: (cô ý hoặc vô ý) của người thực hiện hành vi đó. Quan điểm tội phạm là môt thé thông nhất giữa các yếu tô khách quan (khách thé, mat khách quan) và các yêu tô chủ quan (chủ thể, lẫn) đã được thừa nhận chung trong ly thuyết truyền thông về tội pham. Điều nay hoàn toàn đúng khi TNHS được áp dung đối với cá nhân một con người cụ thé Đặt van đề truy cứu TNHS của pháp nhân không thé tự mình thực hiện hành vi như cá nhân theo nglữa thông thường, mà thực hiện thông qua hành vi của con người cu thé thuộc về pháp nhân, dan đến yêu câu cân phải xem xét quan niém về TNHS theo nghĩa thông thường Các van dé như. hènh vị phạm tôi của pháp nhân được thực hiện như thê 11 nao; pháp nhân có thái độ tâm lý, có thé tính đến yêu tô chủ quan, yếu tô lỗi như quan điểm truyền thông hay không, toàn bô pháp nhân có phải chiu TNHS đối với hành vi do một sô cá nhân thực hiện hay không.
van đang là vân đề gây ra nhiều tranh luân. Đề giải quyết những vướng mắc về mat lý luận của vân dé này, khoa học luật hình sự thê giới ghi nhận các hoc thuyết cơ bản luận giải van dé niu sau: Thứ nhất, học tuyết trách nhiệm thay thé 4 Theo hoc thuyết này, bat cứ điều gì mà người làm công, người đại điên cho pháp nhân thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa pháp nhân với nhân viên theo quy dinh của phép luật đều được coi là do chính pháp nhân thực hiện Trong trường hợp này điều kiện chịu TNHS của pháp nhân là: hanh vi phạm tội được thực hiên trong pham vi nhiém vu và chức trách của người đó, và việc thực hiện hành vi pham tội là vì lợi ích của pháp nhân. Trách nhiệm thay thé được ấp dụng không chi vì nó lý giả: hợp lý, gan gũu với pháp luật dân sự, pháp luật hanh chính ma còn vì hiệu quả thực tế mà nó mang lại. Việc buộc pháp nhân phải gánh chịu những hậu quả pháp lý đo hành vi phạm tội của người làm công sẽ có tinh hiệu quả hơn vi khả năng tài chính thực của tô chức, pháp nhân Đồng thời tính phòng ngừa của học thuyết này cũng rất quan.
trong, giúp nâng cao trách nhiệm trong quan lý, kiểm soát nhân viên. Mặc dù vay, hoc thuyết nay có một nhược điểm là có pham vi quá rông khi quy đính tổ chức, pháp nhân phải chiu TNH trong trường hop bat ky một nhân viên (với chức vụ bat ky) có hành vi pham tôi vì lợi ích pháp nhân. Điều này càng bat cập trong thời dai công nghiệp, toàn cầu hóa với các tổng công ty, các tập đoàn kinh tê có hàng ven nhân công hiên nay. Thứ hai, học thuyết đồng nhất nhất trách nhiệm.
Học thuyết này có nguôn gộc từ nước Anh, xuất hiện trong phán quyết của Thương viện (House of Lords) về vụ Leonard's Carrying Company Ltd v. Asiatic Petroleum Company Ltd năm 1915 Stu tưởng chính của học thuyết đồng nhất nhất trách nhiệm thé hiện việc coi ý chí, hành vi phạm tdi của * guavastava Devi Sali Lal (1996), Concept implications cnxdimpact of vicarious Hability, Faleuty of Law, tr. 281- 403 Ludanow, * Lưu Hii Yên (2023), Trách siuệm fink su của pháp nhấn đưới góc độ so sánh luật, Luận in tần sĩ Luật hoc , Hà Nội,tr 50 12 những người đại điện cho pháp nhân như chính là ý chí, hành vi phạm tôi của pháp nhân. Nói cách khác, hành vi, lỗi của tổ chức, pháp nhân được đánh giá thông qua hành vi, lỗi của cá nhân những người chỉ huy, quản lý, điều hành tô chức, pháp nhân đó.
Ví dụ, Điều 47 Luật công ty (Companies Law) của Israel năm 1999 quy dink “Mứng hành vi và những ý dinh của một cơ quan hoặc cá nhân quan ly cing chính là hành vi, ý định của công py”Š Vi vậy, khi nhân viên quản lý của công ty thực hiện hành vi phạm tội thi đồng thời, ngay lâp tức và một cách trực tiếp, hành vi đó được coi là hành vi phạm tội của công ty Hai điều kiện cần và đủ để truy cứu TNHS đổi với tổ chức, pháp nhân là: Hành vi phạm tôi do người đại điện pháp nhân đó thực hiện nhân danh, thay mat hoặc đại điện cho tổ chức, pháp nhân, và hành vi phạm tôi được thực hiện vì lợi ích của tổ chức, pháp nhân. Ưu điểm của học thuyết nay là đơn giản hóa nhận thức và thủ tục truy cứu TNHS đối với tô chức, pháp nhân Dé truy cứu TNHS pháp nhân, người thi hành pháp luật chỉ cân chứng minh hành vi, lỗi của các cá nhân và các cá nhân đó có chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành tô chức, pháp nhân Điểm đáng lưu ý nhật của học thuyết đông nhật hóa trách nhiém chính là xác định người quan lý đại điện pháp lý của pháp nhân. V ới rat nhiéu loại hình tô chức, pháp nhân với hình thức hoạt động, kinh doanh rất khác nhau, việc có được một tiêu chuan cứng dé xác định các chủ thé này là điều rất khó khăn mà phải chấp nhận sự suy xét, đánh giá chủ quan Do đó, pháp luật của một số quốc gia đã có gang đưa ra các tiêu chuan mang tính quy tắc chung dé xác định van dé nay’. Thứ ba, học thuyết hệ théng/ văn hóa.
Đây là một trong những học thuyét xuất hiện muén hơn trong giải quyết van đề TNHS đổi với tô chức, pháp nhân Khác với hai học thuyết trên, hoc thuyết xác định tội của pháp nhân thông qua đánh giá van dé văn hóa của tổ chức, pháp nhân và thực hiên các quy định đó trong thực tế. Theo học thuyết này, nêu chứng minh được rang văn hóa mà pháp nhân đang đuy tri khién người thực hiện hành vi phạm tdi cho rằng pháp nhân khuyén khích, hoặc ít nhật là chấp nhận những hành vi đó, thì pháp nhân được coi là đã ủy quyền cho phép nhân viên của mình thực hiên hanh vi ˆ Luật công ty Tsar 1999. Gsarel Conspanies Lar 1999), lựtos./Arertr iol orgáp-cortertRploads/Eessl ConpanissLaw pdt. "Ly Thi Tường Nga 2017), Trách waém hinh sic của pháp nhiên, Luận vin Duc sĩ Luật học , Hà Nội,tr 17-18 13 phạm tdi.