Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng. Chương 2: Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng. Chương 3: Vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng. 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO XÂM PHẠM SỨC KHỎE, TÍNH MẠNG 1.1 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại 1.1 Khái niệm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ai gây thiệt hại thì phải bồi thường cho thiệt hại mà mình đã gây ra, đây là nguyên tắc cơ bản tồn tại từ rất xa xưa, được các nhà làm luật coi trọng và cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật.
Quan hệ pháp luật được hình thành giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo Bộ luật Dân sự hiện hành thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định từ Điều 360 đến Điều 364 về trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng và tại chương XX về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không đưa ra khái niệm trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên các căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm BTTH, thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Vì thế, khi một người có những hành vi trái pháp luật mà gây tổn hại đến lợi ích của người khác thì sẽ phải gánh chịu những bất lợi do hành vi của mình đã gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi mà bản thân đã gây ra bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại. Từ đó, có thể hiểu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra [6].2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại Về cơ bản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng là một loại trách nhiệm pháp lý, vì thế nó mang những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói 5 chung như là hậu quả pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng, được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước,… Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm BTTH cũng có những đặc điểm đặc trưng sau: - Về cơ sở pháp lý: Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự chính vì thế nó chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh.
- Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự (nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng), có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại (không phải là điều kiện bắt buộc). Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt trách nhiệm BTTH có thể phát sinh khi không có đủ các điều kiện trên, ví dụ như trong các trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trách nhiệm BTTH vẫn phát sinh ngay cả khi không có yếu tố lỗi của người gây thiệt hại[6]. - Về hậu quả: Trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại.
Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường. Vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại[6]. - Về chủ thể gánh chịu trách nhiệm: Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm BTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của pháp nhân gây ra thiệt hại, trường 6 học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề… 1.3 Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại Có nhiều cách để phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên trong phạm vi đề tài, chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm BTTH là trách nhiệm BTTH theo hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có thể chia trách nhiệm BTTH ra làm hai loại là trách nhiệm BTTH theo hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Đây là cách phân loại cơ bản nhất vì việc xác định cơ sở giải quyết bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và ngoài hợp đồng rất khác nhau. Chính vì vậy, xác định được rõ hai loại trách nhiệm này sẽ giúp cho việc áp dụng pháp luật trong quan hệ BTTH một cách đúng đắn.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng là trách nhiệm phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự với người có quyền theo quy định trong hợp đồng.
Tuy nhiên, nếu sự vi phạm này chưa gây thiệt hại, thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Mặt khác, nếu vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại cho người bị vi phạm, thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Về bản chất, trách nhiệm BTTH theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại do người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra. Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng có những đặc điểm sau: - Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.
Nếu giữa hai bên không tồn tại một hợp đồng nào thì nếu có thiệt hại xảy ra thì sẽ 7 là những thiệt hại phát sinh ngoài hợp đồng và bên gây thiệt hại sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Như vậy, trong các trường hợp hợp đồng bị vô hiệu, hủy bỏ hợp đồng và vi phạm đề nghị giao kết hợp đồng thì những quan hệ BTTH phát sinh là quan hệ BTTH ngoài hợp đồng vì hợp đồng chưa được giao kết hoặc được cho là chưa hề tồn tại[6]. - Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm những thỏa thuận đã có của một trong hai bên giao kết hợp đồng và gây ra thiệt hại. Hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng ở đây có thể hiểu là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng.
- Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan hệ hợp đồng. Khi hợp đồng được xác lập, các bên trong quan hệ hợp đồng sẽ có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Để đảm bảo hợp đồng được hoàn thành, các bên cần phải tuân thủ những nghĩa vụ theo hợp đồng của mình. Khi một trong hai bên có những hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại cho bên còn lại thì quan hệ BTTH theo hợp đồng sẽ xuất hiện[6].
- Về mức bồi thường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức thiệt hại xảy ra, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên.2 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Khác với trách nhiệm BTTH theo hợp đồng có nguồn gốc phát sinh từ hợp đồng thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không có nguồn gốc phát sinh từ hợp đồng nghĩa là không dựa trên cơ sở một hợp đồng dân sự. Khi một người bất kì có những hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng, mà xâm phạm đến quyền và lời ích của người khác thì phải chịu trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với hành vi mà mình đã gây ra. Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các các nhân và tổ chức khác. Về khái niệm, có thể hiểu: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự buộc người có hành vi xâm phạm đến tài sản, 8 sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra [10,tr.
Vậy, về bản chất, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự chỉ đặt ra khi có thiệt hại và người có trách nhiệm bồi thường phải bồi thường những thiệt hại đó. Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng có một số đặc điểm như sau: - Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Các điều kiện đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái phát luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, trách nhiệm BTTH vẫn có thể phát sinh khi không có yếu tố lỗi, ví dụ như trường hợp gây thiệt hại do tài sản[6].