Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong đời sống xã hội hiện đại cùng tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, con người thường xuyên tiếp xúc với các nguồn nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cao như phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống truyền tải điện, nhà máy công nghiệp, vũ khí, vật liệu nổ, hóa chất độc hại và chất phóng xạ. Quá trình khai thác, vận hành và quản lý các nguồn này tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố kỹ thuật, tai nạn nghiêm trọng, gây thiệt hại nặng nề về tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức cũng như hủy hoại môi trường sinh thái. Mặc dù các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được thiết lập, việc áp dụng vào thực tiễn đối với loại hình nguồn nguy hiểm cao độ vẫn bộc lộ nhiều vướng mắc. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật làm xuất hiện thêm các nguồn nguy hiểm mới, trong khi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa theo kịp, dẫn đến tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài và gây khó khăn cho các cơ quan xét xử.

Khóa luận xác định mục đích chính là nghiên cứu, phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích đó, tác giả đặt ra 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; xây dựng khái niệm khoa học về nguồn nguy hiểm cao độ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ; phân tích các đặc điểm pháp lý đặc thù.
  2. Tiến hành đánh giá chi tiết thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại; chỉ ra các khó khăn, vướng mắc trong quy trình giải quyết bồi thường về tính minh bạch, công bằng và hiệu quả.
  3. Đề xuất hệ thống kiến nghị cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành về chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ nói riêng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan hệ pháp luật phát sinh từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ, trọng tâm là BLDS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023), kết hợp đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật tại các cơ quan xét xử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận kế thừa và phát triển cơ sở lý luận từ các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý trước đó, bao gồm:

  • Luận văn thạc sĩ của Lê Mai Anh (1997), Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), Trần Trà Giang (2011), Dương Thị Thanh Huyền (2012), Nguyễn Tuấn An (2015);
  • Bài viết chuyên khảo trên các tạp chí pháp lý của Mai Bộ (2003), Nguyễn Xuân Đãng (2005), Phạm Vũ Ngọc Quang (2012), Hoàng Đạo và Vũ Thị Lan Hương (2013), Nguyễn Văn Hợi (2017, 2018), Đoàn Thị Ngọc Hải (2018), Phạm Quang Tiệp (2020), Đặng Văn Ruật (2021);
  • Các tài liệu học thuật nền tảng như giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, sách chuyên khảo của TS. Phùng Trung Tập (2009) về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Hệ thống khung pháp lý thực định được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu gồm:

  • BLDS năm 1995 (Điều 627), BLDS năm 2005 (Điều 623), BLDS năm 2015 (Điều 601, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 156, Điều 171);
  • Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Các luật chuyên ngành xác định danh mục nguồn nguy hiểm: Luật Giao thông đường bộ 2008, Luật Giao thông đường thủy nội địa 2004 (sửa đổi, bổ sung 2015), Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015, Luật Đường sắt 2017, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (sửa đổi, bổ sung 2014), Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017 (sửa đổi, bổ sung 2019), Luật Phòng cháy và chữa cháy 2001 (sửa đổi, bổ sung 2013), Luật Hóa chất 2007, Luật Năng lượng nguyên tử 2008, Thông tư số 25/2016/TT-BCT của Bộ Công Thương và Thông tư liên ngành số 01/1995.

Cơ sở phương pháp luận của khóa luận dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin nhằm làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa quy phạm pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được kết hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật;
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu các giai đoạn lập pháp và các văn bản hướng dẫn);
  • Phương pháp thống kê và phân tích tài liệu thực địa từ các bản án, vụ việc thực tế để đánh giá tính tương thích và hiệu quả thi hành pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Chương 1 tập trung giải quyết các khái niệm khoa học, nhận diện bản chất pháp lý và xác định các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm.

Căn cứ Khoản 1 Điều 601 BLDS năm 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành, tác giả phân tích bản chất 8 nhóm nguồn nguy hiểm cao độ được pháp luật quy định:

Nhóm nguồn nguy hiểm cao độ Căn cứ pháp lý xác định Điều kiện / Tiêu chí nhận diện
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới Luật GTĐB 2008, Luật GT ĐTNĐ 2004, Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Đường sắt 2017, Luật HKDD 2006 Bao gồm ô tô, xe máy điện, tàu thuyền, máy bay, đầu máy toa xe; chỉ là nguồn nguy hiểm khi ở trạng thái hoạt động
Hệ thống tải điện và nhà máy công nghiệp Thông tư 25/2016/TT-BCT, Điều 601 BLDS 2015 Hệ thống truyền tải điện công suất lớn và cơ sở sản xuất công nghiệp đang trong trạng thái vận hành
Vũ khí Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, VLN và CCHT 2017 (sửa đổi 2019) Gồm vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí có tính năng tương tự
Chất nổ, chất cháy Luật PCCC 2001 (sửa đổi 2013), TT liên ngành 01/1995 Chất lỏng/khí/vật tư dễ cháy, phản ứng hóa học tỏa nhiệt mạnh sinh áp suất cao (thuốc nổ, phốt pho, diêm tiêu)
Chất độc Luật Hóa chất 2007, TT liên ngành 01/1995 Hóa chất có độc tính cấp/mãn tính, gây kích ứng, ung thư hoặc hủy hoại sức khỏe ở liều lượng nhỏ
Chất phóng xạ Khoản 8 Điều 3 Luật Năng lượng nguyên tử 2008 Chất phát ra bức xạ do phân rã hạt nhân, chuyển mức năng lượng vượt mức miễn trừ
Thú dữ Chưa có định nghĩa luật định; giải thích theo từ điển và học thuyết Động vật hung dữ, to lớn, có khả năng tấn công chủ động (hổ, báo, chó ngao Tây Tạng...)
Nguồn nguy hiểm cao độ khác Quy định mở tại Điều 601 BLDS 2015 Chưa có văn bản cụ thể hướng dẫn chi tiết các nguồn phát sinh mới

Tác giả chỉ ra 3 đặc điểm cơ bản của nguồn nguy hiểm cao độ: (1) Luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại bất ngờ vượt ngoài tầm kiểm soát tuyệt đối của con người (dẫn chứng vụ xe ô tô phát nổ tại Đồng Xoài, Bình Phước tháng 3/2023); (2) Khả năng gây thiệt hại với tần suất và quy mô lớn, khó khắc phục (dẫn chứng vụ nổ kho pháo hoa Nhà máy Z121 tại Phú Thọ tháng 10/2013 làm hơn 20 người chết, hơn 100 người bị thương); (3) Tiềm ẩn nguy cơ gây hại ngay cả khi được quản lý nghiêm ngặt.

Về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một dạng trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng đặc thù với 3 căn cứ phát sinh:

  • Có thiệt hại thực tế xảy ra (thiệt hại về vật chất và tổn thất tinh thần theo Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, không bao gồm thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín);
  • Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật xuất phát từ "tự thân" sự vận hành của nguồn nguy hiểm cao độ (không phải do hành vi con người sử dụng nguồn nguy hiểm làm công cụ thực hiện hành vi);
  • Có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa sự vận hành tự thân của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại thực tế.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Chương 2 đi sâu mổ xẻ các nhóm quy phạm điều chỉnh chủ thể, căn cứ loại trừ trách nhiệm và vị trí của yếu tố lỗi theo BLDS năm 2015 và Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP.

  1. Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường:
  • Chủ sở hữu: Phải bồi thường khi đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ (ngay cả khi không có lỗi). Nếu giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng trái quy định pháp luật (ví dụ: biết người không có giấy phép lái xe ô tô vẫn giao xe theo Điều 12 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP) thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường.
  • Người được giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp: Phải bồi thường khi được chuyển giao theo đúng quy định pháp luật. Tác giả phân tích điểm mới của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP đã bãi bỏ thỏa thuận "ai có điều kiện kinh tế hơn thì bồi thường trước" (từng tồn tại ở Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP) nhằm tránh việc đùn đẩy trách nhiệm.
  • Người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật: Phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có lỗi để nguồn nguy hiểm bị chiếm hữu trái phép thì phải chịu trách nhiệm liên đới.
  • Năng lực bồi thường theo độ tuổi (Điều 586 BLDS 2015): Người dưới 15 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ/người giám hộ bồi thường; người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi bồi thường bằng tài sản riêng, phần thiếu do cha mẹ bù đắp; người từ đủ 18 tuổi trở lên tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản.
  1. Về chủ thể được bồi thường và quan hệ bảo hiểm: Chủ thể được bồi thường gồm người bị thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và thân nhân thuộc hàng thừa kế/người được cấp dưỡng. Tác giả khẳng định chi trả từ bảo hiểm y tế và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng là hai quan hệ pháp luật độc lập; việc cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí không làm chấm dứt hay miễn trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của bên gây hại.

  2. Về các trường hợp loại trừ trách nhiệm (Khoản 3 Điều 601 BLDS 2015):

  • Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại: Tác giả chỉ ra sự khác biệt: nếu người bị thiệt hại có lỗi vô ý thì bên quản lý nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải bồi thường. Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP đã hoàn thiện ví dụ minh họa bằng trường hợp người cố tình trèo vào khu vực có biển báo trạm điện cao áp nguy hiểm dẫn đến bị điện giật tử vong (thay thế ví dụ chưa chặt chẽ về việc lao vào ô tô tự tử ở Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP).
  • Sự kiện bất khả kháng (Điều 156 BLDS 2015): Phải hội đủ 3 yếu tố: diễn ra khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết.
  • Tình thế cấp thiết (Điều 171 BLDS 2015): Hành vi gây thiệt hại phải nhằm bảo vệ lợi ích lớn hơn, nguy cơ đang đe dọa thực tế, là biện pháp duy nhất và thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn. Tác giả nhấn mạnh quy tắc này chỉ áp dụng đối với thiệt hại về tài sản, không áp dụng để biện minh cho việc xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người.
  1. Về yếu tố lỗi: Lỗi không phải là điều kiện bắt buộc để phát sinh trách nhiệm của chủ sở hữu/người chiếm hữu hợp pháp (nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt). Tuy nhiên, lỗi vẫn giữ ba vai trò then chốt: (1) Căn cứ loại trừ trách nhiệm khi nạn nhân có lỗi cố ý hoàn toàn; (2) Căn cứ xác định trách nhiệm liên đới giữa chủ sở hữu và người chiếm đoạt tài sản trái phép; (3) Căn cứ xem xét giảm mức bồi thường theo Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 khi người bồi thường không có lỗi (hoặc có lỗi vô ý) và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế.

Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Dựa trên thực tiễn áp dụng và các vụ án điển hình, tác giả chỉ ra những bất cập:

  • Chưa có hướng dẫn chi tiết về ranh giới xác định "thú dữ" và "nguồn nguy hiểm cao độ khác", dẫn đến sự lúng túng giữa áp dụng Khoản 3 Điều 584 (tài sản gây thiệt hại) và Điều 601 BLDS năm 2015.
  • Khó khăn trong việc phân định giữa thiệt hại do "vận hành tự thân của nguồn nguy hiểm" và thiệt hại do "hành vi vi phạm quy tắc an toàn của con người khi điều khiển phương tiện".
  • Xung đột quy phạm giữa Khoản 4 Điều 585 (bên bị thiệt hại có lỗi thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra - không phân biệt cố ý hay vô ý) với Khoản 3 Điều 601 (chỉ loại trừ trách nhiệm khi người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi cố ý).

Từ đó, khóa luận đưa ra hai nhóm kiến nghị:

  • Hoàn thiện quy định pháp luật: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể tiêu chí xác định "thú dữ" và danh mục mở "nguồn nguy hiểm cao độ khác"; phân định rõ trách nhiệm giữa quyền chiếm hữu và quyền sử dụng khi chủ sở hữu chuyển giao tài sản; giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa quy định chung tại Điều 585 và quy định đặc thù tại Điều 601 BLDS năm 2015 theo nguyên tắc chỉ áp dụng giảm mức bồi thường (Khoản 2 Điều 585) mà không loại trừ hoàn toàn khi nạn nhân chỉ có lỗi vô ý.
  • Nâng cao hiệu quả thi hành: Tăng cường tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; ban hành thêm án lệ định hướng xét xử; đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành an toàn kỹ thuật trong quản lý, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ cấu trúc lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, khẳng định đây là cơ chế trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict Liability) trong luật dân sự, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của chủ thể quản lý hợp pháp.
  • Hệ thống hóa và phân tích chi tiết 8 nhóm nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định tại Điều 601 BLDS năm 2015 gắn liền với các văn bản luật chuyên ngành hiện hành.
  • Cập nhật và phân tích sâu sắc các điểm mới mang tính đột phá của Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP (có hiệu lực từ ngày 01/01/2023), làm rõ sự tiến bộ so với Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP trong việc hủy bỏ cơ chế thỏa thuận kinh tế không rõ ràng và chuẩn hóa các ví dụ áp dụng pháp luật.
  • Phát hiện và luận giải xung đột pháp lý giữa quy tắc phân chia mức độ lỗi chung tại Khoản 4 Điều 585 và điều kiện loại trừ trách nhiệm đặc thù tại Khoản 3 Điều 601 BLDS năm 2015, từ đó đề xuất phương án áp dụng thống nhất.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn chủ yếu tập trung vào các nguồn nguy hiểm cao độ truyền thống (phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, lưới điện, cháy nổ), chưa bao quát sâu các tranh chấp phát sinh từ công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo hoặc năng lượng hạt nhân do nguồn án văn thực tế tại Việt Nam đối với các lĩnh vực này còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế về việc quy định trách nhiệm bồi thường đối với các nguồn nguy hiểm cao độ thế hệ mới (như phương tiện tự hành không người lái, hệ thống tự động hóa công nghiệp); nghiên cứu hoàn thiện cơ chế bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc nhằm đảm bảo nguồn tài chính bù đắp rủi ro cho nạn nhân.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Kinh tế khi nghiên cứu chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đối với thực tiễn tư pháp, các thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư có thể tham khảo phần luận giải chi tiết về các căn cứ loại trừ trách nhiệm, kỹ thuật phân định hành vi có lỗi của người điều khiển với sự cố tự thân của nguồn nguy hiểm, cũng như cách áp dụng Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP trong giải quyết tranh chấp dân sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ vẫn phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi?
Nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn rủi ro gây thiệt hại bất ngờ và nghiêm trọng cho cộng đồng vượt ngoài tầm kiểm soát của con người. Pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi dựa trên nguyên tắc công bằng: chủ sở hữu là người khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thì phải gánh chịu rủi ro và có nghĩa vụ quản lý cao nhất nhằm bảo vệ bên bị thiệt hại.

2. Điểm mới quan trọng của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP so với Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP là gì?
Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP đã bãi bỏ quy định cho phép thỏa thuận "ai có điều kiện kinh tế hơn thì người đó thực hiện bồi thường trước" giữa chủ sở hữu và người được giao tài sản, ngăn chặn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Đồng thời, nghị quyết thay thế các ví dụ hướng dẫn áp dụng chưa hợp lý trước đây (như ví dụ về tự tử) bằng các tình huống chuẩn xác về lỗi cố ý (như tự ý xâm phạm trạm biến áp có biển cảnh báo nguy hiểm).

3. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được loại trừ trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp nào?
Theo Khoản 3 Điều 601 BLDS năm 2015, trách nhiệm bồi thường chỉ được loại trừ trong 2 trường hợp: (1) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; (2) Thiệt hại xảy ra trong sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết (trừ trường hợp luật có quy định khác).

4. Nếu người bị thiệt hại có lỗi vô ý thì mức bồi thường được giải quyết ra sao?
Nếu người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ý, chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ vẫn không được loại trừ trách nhiệm hoàn toàn theo Điều 601. Tuy nhiên, họ có thể được Tòa án xem xét giảm mức bồi thường theo Khoản 2 Điều 585 BLDS năm 2015 nếu bản thân không có lỗi (hoặc có lỗi vô ý) và thiệt hại xảy ra là quá lớn so với khả năng kinh tế thực tế của mình.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thu Hường đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại Việt Nam. Công trình phân tích sâu sắc các quy phạm của BLDS năm 2015, gắn kết với các luật chuyên ngành và hướng dẫn mới tại Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP. Các phát hiện về mâu thuẫn quy phạm và hệ thống giải pháp lập pháp được đề xuất trong khóa luận có giá trị thực tiễn cao, góp phần hoàn thiện khoa học pháp lý dân sự và nâng cao hiệu quả xét xử các tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng.