CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHỮNG CÔNG NGHỆ PHỔ BIẾN NHẤT THI CÔNG CẦU LỚN HIỆN NAY 1.1 CÔNG NGHỆ MÓNG CỌC KHOAN NHỒI 1.1 Tổng quan về cọc khoan nhồi và tình hình ứng dụng cọc khoan nhồi trong xây dựng cầu ở nước ta Xây dựng các cầu lớn vượt khẩu độ đến hàng trăm mét trên hệ móng cọc đường kính lớn, chiều dài cọc lớn trong điều kiện địa chất phức tạp như có nhiều lớp đất yếu, hoặc có castơ, hoặc ở nơi nước sâu là một trong những thách thức lớn đối với ngành xây dựng cầu. Khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, do kỹ thuật sử dụng vữa sét được nghiên cứu và ứng dụng thành công vào việc ổn định các hố đào trong đất. Người ta đã áp dụng kỹ thuật này vào việc thi công các cọc đổ bê tông tại chỗ hay cọc khoan nhồi. Cọc khoan nhồi hay còn gọi là cọc đổ bê tông tại chỗ được tạo ra bằng một quá trình nhiều công đoạn gồm: dùng thiết bị chuyên dụng khoan hoặc đào đất để tạo lỗ trong đất tới cao độ thiết kế, hạ lồng cốt thép vào trong lỗ khoan, đổ bê tông tại chỗ để tạo thành cọc bê tông cốt thép.
Đầu những năm 90 ở Việt Nam lần đầu tiên ngành xây dựng cầu đã ứng dụng công nghệ cọc khoan nhồi đường kính 1,3 m hạ sâu 30 m khi thi công cầu Việt Trì. Cho đến nay cùng với các công nghệ thi công cầu hiện đại như: Đúc hẫng cân bằng, đúc đẩy theo chu kỳ, đúc dầm liên tục trên đà giáo di động, thi công cầu dây văng, đúc dầm thành mỏng Super T,. công nghệ thi công nền móng bằng cọc khoan nhồi đường kính lớn ( > 600mm theo BS 8004-1986) đã được áp dụng và phát triển có hiệu quả ở nước ta. Trong phạm vi cả nước, cọc khoan nhồi đã được sử dụng đối với các dự án lớn như: Cầu Việt Trì, cầu Gianh, cầu Quán Hàu, cầu Mỹ Thuận, cầu Tân Đệ, cầu Yên Lệnh, cầu Thanh Trì, cầu Bính, cầu Kiền.và nhiều cầu lớn ven biển Miền Trung như cầu Trường Hà bắc qua phá Tam Giang - Thừa Thiên Huế, cầu Bình Phú bắc qua đầm Cù Mông - Phú Yên, cầu vượt đầm Thị Nại nối liền thành phố Quy Nhơn với khu kinh tế Nhơn Hội.
Móng cọc khoan nhồi đã được nghiên cứu và áp dụng nhiều trong xây dựng cầu ở những vùng đất yếu, địa chất phức tạp điển hình như sau: ____________________________________________________________________________ Lớp Cao học Cầu Hầm K16-ĐH GTVT 3 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Học viên Phạm Ngọc Ẩn - Móng trụ cầu Đông Kinh (Lạng Sơn) sử dụng 8 cọc khoan nhồi đường kính 100cm, dài 10-15m khả năng chịu tải của cọc 500-600T. Cọc xuyên qua địa tầng có hang động cástơ, chân cọc tựa trên nền đá vôi.Thi công bằng máy khoan GPS 1500 của Trung Quốc. - Móng mố trụ cầu sông Gianh (Quảng Bình) dùng 44 cọc khoan nhồi đường kính 130cm,dài 32-35m khả nang chịu tải của cọc 850-1000T. Cọc xuyên qua địa tầng lớp sét-sét dẻo mềm đến dẻo cứng, ngàm vào tầng cuội 2-3m.
Thi công bằng máy khoan TRC 1500 của Nhật, giữ ổn định vách lỗ khoan bằng ống khoan và dung dịch bentonite. - Móng trụ cầu Hòa Bình (Hòa Bình) dùng cọc khoan nhồi đường kính 150cm dài 35-40m khả năng chịu tải của cọc 760-800T. Cọc xuyên qua địa tầng lớp sét- cát-cuội-đá phiến thạch phong hóa, chân cọc tựa trên nền đá phiến thạch nguyên khối. Thi công bằng máy khoan BS-680-R của Đức giữ ổn định bằng ống vách và dung dịch bentonite.
- Móng mố trụ cầu Lạc Quần (Nam Định) dùng cọc khoan nhồi D=150cm dài 85m, khả năng chịu tải của cọc 920-950T. Cọc xuyên qua địa tầng sét chảy đến sét dẻo mềm ngàm vao tầng cát chặt 2-3m. Thi công bằng máy khoan BS 680 R giữ ổn định vách lỗ khoan bằng dung dịch bentonite và ống vách. - Đặc biệt móng trụ neo và trụ tháp phần cầu chính Mỹ Thuận sử dụng 36 cọc khoan nhồi đường kính 250cm dài 55-100m, khả năng chịu tải 3900T.
Cọc xuyên qua địa tầng sét chảy đến sét dẻo mịn ngầm vào tầng cát chảy 2-3m bằng gàu ngoạm hình bán cầu KD F3-2400 E(S) của Đức giữ ổn định vách lỗ khoan bằng ống vách và dung dịch bentonite. Sau khi tạo lỗ khoan xong và giữ ổn định thành vách, các bước thi công tiếp theo tiến hành cơ bản là giống nhau. Sự khác biệt đáng kể giữa các công nghệ đã vận dụng chủ yếu là ở phương pháp và thiết bị khoan, phương pháp giữ ổn định thành vách. Nếu như việc lựa chọn công nghệ, phương pháp khoan và giữ ổn định thành là phù hợp thì hạn chế tối đa khả năng xuất hiện các sự cố.
Ngược lại,nếu công nghệ, phương pháp thi công không thích hợp thì xác suất xảy ra sự cố rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng và tiến độ thi công công trình.2 Ưu nhược điểm, phạm vi áp dụng: 1.1 Ưu điểm : ____________________________________________________________________________ Lớp Cao học Cầu Hầm K16-ĐH GTVT 4 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Học viên Phạm Ngọc Ẩn - Máy móc và thiết bị hiện đại, thuận tiện trên mọi địa hình phức tạp. Cọc khoan nhồi có thể được đặt vào những lớp đất rất cứng, thậm chí tới lớp đá mà cọc đóng không thể với tới được. - Thiết bị thi công nhỏ gọn nên có thể thi công trong điều kiện xây dựng chật hẹp. Trong quá trình thi công không gây trồi đất ở xung quanh, không gây lún nứt, các công trình kế cận và không ảnh hưởng đến các cọc xung quanh và phần nền móng và kết cấu của các công trình kế cận.
- Có tiết diện và độ sâu mũi cọc lớn hơn nhiều so với cọc chế sẵn do vậy sức chịu tải lớn hơn nhiều so với cọc chế tạo sẵn. Khả năng chịu lực cao hơn 1,2 lần so với các công nghệ khác thích hợp với các công trình lớn, tải trọng nặng, địa chất nền móng là đất hoặc có địa tầng thay đổi phức tạp. - Độ an toàn trong thiết kế và thi công cao, bê tông được đổ liên tục từ đáy hố khoan lên trên tạo ra một khối cọc bê tông đúc liền khối nên tránh được tình trạng chấp nối giữa các tổ hợp cọc như ép hoặc đóng cọc. Do đó nên tăng khả năng chịu lực và độ bền co móng của các công trình công nghiệp, tòa nhà cao tầng, cầu giao thông quy mô nhỏ,… - Độ nghiêng lệch của các cọc nằm trong giới hạn cho phép.
- Số lượng cọc trong một đài cọc ít, việc bố trí các đài cọc cùng các công trình ngầm trong công trình được dễ dàng hơn. - Chi phí: giảm được 20-30% chi phí cho xây dựng móng công trình. Thời gian thi công nhanh. Cọc khoan nhồi tuần hoàn dung dịch là giải pháp móng có nhiều ưu điểm về mặt thiết kế, căn cứ vào tài liệu địa chất người thiết kế có thể xác định được chiều sâu cọc sao cho sức chịu tải của đất nền tương đương với sức chịu tải vật liệu của cọc, điều này với phương pháp cọc đóng hoặc ép tĩnh không đạt được, đó là điều kiện đưa đến giải pháp nền móng hợp lý và kinh tế hơn.
- Tính an toàn lao động cao hơn cọc ép.2 Nhược điểm : - Yêu cầu kỹ thuật thi công cao, khó kiểm tra chính xác chất lượng bê tông nhồi vào cọc, do đó đòi hỏi sự lành nghề của đội ngũ công nhân và việc giám sát chặt chẽ nhằm tuân thủ các quy trình thi công. - Môi trường thi công sình lầy, dơ bẩn. - Chiều sâu thi công bị hạn chế trong giới hạn từ 120→ 150 lần đường kính cọc. ____________________________________________________________________________ Lớp Cao học Cầu Hầm K16-ĐH GTVT 5 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Học viên Phạm Ngọc Ẩn 1.3 Phạm vi áp dụng: - Thích hợp với các loại nền đất đá, kể cả vùng có hang castơ.
- Thích hợp với công trình cầu lớn, tải trọng nặng, địa chất nền móng là đất yếu hoặc có địa tầng thay đổi phức tạp. - Phù hợp cho nền móng các công trình cầu vượt xây dựng trong thành phố hay đi qua khu dân cư đông đúc vì đảm bảo các yêu cầu về môi trường cũng như tiến độ thi công cầu. - Thích hợp đối với móng có tải trọng lớn cho các cầu vượt nhịp lớn hoặc cầu khung có yêu cầu độ lún rất nhỏ. Các loại cọc khoan nhồi gồm cọc chống, cọc vừa chống vừa ma sát.
Cọc khoan nhồi có thể áp dụng cho hầu hết các loại địa chất đất đá. Công nghệ khoan cọc nhồi bê tông cốt thép được ứng dụng rộng rãi để xử lý nền móng công trình trên nền đất yếu. Chúng thường được thiết kế để mang tải lớn nên chất lượng của cọc luôn luôn là vấn đề được quan tâm nhất. Bởi vì nếu có sai sót về chất lượng cọc thì sẽ phải trả giá đắt bằng cách thi công bổ sung cọc và thay đổi thiết kế bệ móng gây tổn thất về kinh tế và tiến độ thi công đối với nhà thầu.
Khâu quan trọng nhất để quyết định chất lượng của cọc là khâu thi công, nó bao gồm cả kỹ thuật, thiết bị, năng lực của đơn vị thi công, sự nghiêm túc thực hiên quy trình công nghệ chặt chẽ, kinh nghiệm xử lý khi gặp các trường hợp cụ thể. Hiện tại chúng ta đã làm chủ được công nghệ thi công cọc đường kính lớn có thể tới 3 m, khoan sâu trong các lớp địa chất 4060 m, thậm chí sâu đến 80100 m. Công nghệ thi công cọc khoan nhồi đường kính lớn đã tạo thế chủ động cho ngành xây dựng cầu trong việc thi công các công trình cầu lớn.3 Công nghệ thi công cọc khoan nhồi trong công trình giao thông: 1.1 Các phương án tạo lỗ cọc khoan nhồi: Để tạo lỗ cọc khoan nhồi có thể chia thành các phương pháp tuỳ thuộc tiêu chí đánh giá như sau: - Phân loại theo phương pháp lấy đất ra khỏi lỗ khoan: + Lấy đất gần nguyên dạng ra khỏi hố khoan bằng các thiết bị chuyên dụng: Gàu xoay, guồng xoắn, gàu múc dạng vỏ sò,.Thích hợp đối với các lớp địa chất mền yếu. ____________________________________________________________________________ Lớp Cao học Cầu Hầm K16-ĐH GTVT 6 Luận văn thạc sỹ kỹ thuật Học viên Phạm Ngọc Ẩn + Phá vỡ địa tầng rồi thu hồi mùn khoan bằng tuần hoàn dung dịch Bentonite.
Các thiết bị được sử dụng để khoan phá là: Đầu khoan xoay, quả chuỳ đập theo kiểu rơi tự do. Thích hợp với các lớp đại chất cứng như: Bột kết, đá gốc. - Phân loại theo hình thức bảo vệ thành lỗ khoan: + Khoan có ống vách tạm thời hoặc vĩnh cửu, ống vách có thể cố định hoặc xoay, lắc trong quá trình khoan. Sử dụng trong địa tầng đất yếu, có cát chảy hoặc lưu tốc nước ngầm lớn.