phần mở đầu, 03 chương chính văn, kết luận và kiến nghị Cấu trú luận văn gm 86 trang chính văn: 44 hình vẽ, đồ this 13 bing bigu va 104 nguồn tà liệu tham khảo Churong 1. Siêu tự điện hóa. Nguồn gốc và sự phát triển của siêu tụ điện Siêu tụ điện (Supercapaeitor - SC) còn được gọi là tụ điện hóa là một loại thiết bị lưu ữ năng lượng điện hóa mới khíc với tụ điệ và pin thông thưởng, Trái ngược với tụ điện truy thống, diện tích giữa điện cực và Ất điện môi của siêu tụ điện rắt lớn và độ đầy của chất điện môi là nanomet, do đó điện dung của siêu tụ điện cao hơn so với tụ điện thông thường. Năm 1853, Helmholg lần đầu tiên khám phá cơ chế lưu trữ điện tích của tụ điện và đề xuất mô hình lớp kép điện trong nghiên cứu huyển phủ keo.
Năm 1957, Becker nộp đơn xin cắp bằng sng chế đầu tiên về tụ điện hóa với các điện cực catbon xép tong dung dịch H;SO. Năm 1978, Tập đoàn NEC của} lật Bản đã thương mại hóa một tụ điện hóa và gọi nó l êu tụ điện”. Năm 1989, Bộ Năng lượng Hoa Kỹ bắt hỗ trợ nghiên cứu về siêu tụ điện với mật độ năng lượng cao, sẽ được sử dụng. trong các hệ thống tuyển động điện va I mot phan trong kế hoạch ô tô điện và hybrid Hiện nay, các tập đoàn siêu tụ điện trên thể giới như Maxwvell (Mỹ), Nesseap (Hàn Quốc), ELTON (Nga), Nippon Chemicon (Nhật Bản) đã phát triển, cung cấp các loại siêu tụ điện khác nhau và bắt đầu ứng dụng thương mại.
CẤu trúc và thông số kĩ thuật Nguyên tắc cơ bản của SC dựa trên các tụ điện tỉnh điện được đưa ra trong, phương tình (-). Trong phương tình này, hằng số điện môi của không khí (ạ), số điện môi tương đối của vậtliệu điện môi (e,), diện tích bé mat (A) và khoảng cách giữa hai điện cực (đ) được thể hiện trong Hình 1. (13)B én dung được chỉnh bằng cách thay đổi di và độđà của vậtliệu điện môi theo phương, trình (1.1) = fA aa) —— | 1 @ Tàn chi - Thanet hn @ cy Hinh 1.1, (a) Cau trúc của tụ tĩnh điện, (b) cấu trúc của SC [1] 'Cấu trúc cơ bản của SC bao gồm các bộ thu dòng và các điện cực thay cho vat liệu điện môi. Nguyên lý hoạt động của SC dựa rên sự tích trữ năng lượng thông qua sự phân bố của các ion gần bề mặt của hai điện cực.
Hai giao điện tạo ra một vùng. điện tích không gian được gọi là lớp điện kép (EDL), như trong Hình 1-I b, Do đó, SC la nh điện và không có phản ứng điện hóa. Phân loại siêu tụ điện hóa “Siêu tụ điện có thể được phân thành ba loại như Hình 1. Sơ để phân loại siêu ty điện [16] 3) Tự điện thông thường ‘Céc tu điện thông thường (conventional capacitors) lưu trữ năng lượng tỉnh điện.
"Tụ điện thường bao gồm các vậtiệu điện môi như thủy nh, nhựa, gồm và giấy, ngăn cách hai tắm dẫn điện (điện cực). Điện trường có thể được tạo ra giữn các lớp điện môi tích điện nhờ sự chênh lệch điện thể giữa các bảng tụ như Hình 1. Diện dung được tính bằng công thức c aAe d2) Trong đó A là diện tích bề mặt của các bản tụ, ¢ là hằng số điện môi của vật liệu. điện môi và đ là khoảng cách giữa các bản tụ.
Các tụ điện thương mại có thể lưu trữ năng lượng trong phạm vi giữa pico- và micro-fara. Sự sắp xếp điện tích trong vật liệu điện môi ở trạng thái tích điện của 0 điện thông thường b) Tụ điện lớp kép điện hóa Cơ chế hoạt động của EDLC tương tự với các tụ điện thông thường. Tuy nhiên, thay vì nu rữ điện tích ong lớp điện môi, EDLC lưu trữ năng lượng trong giao diện siữa điện cục và chất điện li. Sự khác biệt về điện thể giữa các EDLC tạo ra các điện cực có cụ tính khác nhau, dẫn đến sự đi chuyn cửa các ion chất hi sang các vĩ lỗ của các điện cực như Hình 1.
Sơ đồ tích điện của EDLC. Điện dung của EDLC được xác định bởi độ dày của lớp điện kép ở giao điện điện cựe/chất điện phân (Hình 1. Độ dày của lớp kép nhỏ hơn nhiều so với độ dày của lớp phân cách, điều này làm cho EDLC có điện dung cao hơn nhiều so với điện dang của tụ điện thông thường theo phương trình (1-2). Ngoài khoảng cách đ ngắn hơn, điện tích giao diện điện cực/chất điện phân lớn hơn đáng kể so với diện tích trong tụ điện thông thưởng có thé lam tăng thêm điện dung của EDLC.
Bên cạnh đó, tính dẫn điện của chất điện phân trong EDLC có thể làm giảm điện trở trong của các điện cục và khả năng thấm ướt tốt của chất điện phân sẽ tạo điều kiện làm tăng tính di động của các on vào các lỗ của điện cực làm tăng hiệu suất điện dung. [17] Thông thường, than hoại tính (AC) được sử dụng rồng rãi rong các EDILC thương mại. ĐỂ cải thiện điện dung của vật liệu ÁC có thể sử dụng vậtliệu carbon có cấu trúc phức tap hơn như mesoporous carbon, ng nano carbon (CNTS) và graphene. Những vật liệu này thường đắt hơn AC; tuy nhiên, khá năng lưu trừ điện tích vượt trội so với AC.
Ví dụ như Graphene được hoạt hóa bằng KOH có thể đạt điện dung riêng đến 166 Eig trong chất điện phân hữu cơ. [18] ©) Tụ điện giả. [Nam 1951, Comway đề xuất cơ chế tụ điện giả. 19] Mô hình này để xuất cơ chế diện thể nạp điện cực đưới điện áp của phản ứng oi hóa khử hấp phụ -giải hắp thuận nghịch.
Đối với tụ điện giả, quá trình lưu trữ điện tích bao gồm lưu trữ trên lớp kép. và các phản ứng oxi hóa-khử giữa các ion điện phân và vật liệu điện cực. Khi các ion trong chất điện phân (như H*, OH”, K*, hay Li*) khuếch tán từ dung dịch sang giao. diện điện cục/dung dịch dưới tác dụng của điện trường, chúng sẽ đi vào phase của oxide trên bề mặt điện cực thông qua các phản ứng oxi hóa khử tại giao diện, dẫn đến tích trữ một lượng lớn điện tích ở điện cực.
Trong quá trình phóng điện, các ion đi vào odde sẽ được đưa trở lại chất diện phân thông qua phản ứng ngược của phân ứng oxi hóa khử và điện tích tích lưu trữ được giải phóng qua mạch ngoài. Đây là cơ chế sạc và xã của tụ điện lai EDLC Tụ điện giả. 4) ®) © hi @ io teeeiennt xa || oa en | 1 ba E h 7| Hee Be | :I| “nu: vi Hình 1.5, Sơ đồ của các cơ chế lưu trữ điện tích cho (a) EDLC và (b — đ) các loại điện cực giá điện dung khác nhau: (b) tự điện giả lắng đọng dưới điện thể, {c) tụ điện giả oxi hóa khử và (đ) tụ điện giả xen cài ion [13] Điện dụng giã có th tạo ra trên bể mặt điện cực và bên trong điện cực; do đó, só thể đạt được điện dung cao hơn và mật độ năng lượng cao hơn so với EDL. Với cùng một diện tích điện cực, điện dung của tụ điện giả có thẻ gắp 10 - 100 lần điện dụng của EDLC.
Nhìn chung tụ điện giả có điện trở suất cao. vì vậy quá tình vận chuyển điện tích không hiệu quả trong quá trình điện hóa và mật độ năng lượng thấp, Hơn nữa, vòng đời của tụ điện giả rất kém, Để giảm điện trở tiếp xúc của giao diện và tăng điện dung riêng, giải pháp thường là sử dụng vậtliệu điện cục có kích thước nanomet [20] hoặc chế tạo vật liệu điện cực có hình thái và cấu trúc đặc biệt để chất ign li dé dàng khuếch tần vào bên trong vật liệu điện cực [21]. Một trong những vậtliệu được nghiên cứu sử dụng cho tụ điện giã là Ruthenium oxide. Kim loại quý này có nhiều pha oxi hóa khử [Ru(IV)/II) và Ru(II/RudD] trong môi trường iu proton (sulfiie acid), ạo ra nhiều quá tình chuyên để có điện dung lớn hơn.
Hu và cộng sự đã tổng hợp được vật liệu điện cực sử dụng ống nano RuO; có điện dung riêng lên đến 1300 Fig trong dung dịch điện li H;SO¡ được ứng dụng tong thực atu điện. Để giả quyết vẫn để này, các ni cứu đã chuyển hướng sang sử dụng các chất thay thể ít độc hại và rẻ tiền hơn như. oxide cin cobalt, nickel, manganese va polymer din điện. dây nano cobalt oxide o6 dign dung la 570-700 Fig [23] va soi nano nickel oxide e6 dung tương ứng 1a 710 Fig [24], Polymer din din polypyrrole ( PPY) được sản xuất bởi Zhang và công sự có gid tri gn dung la 150-400 Fig.
[25] Mae da vat liệu thay thể này có hiệu suất hứa hẹn, nhưng độ dẫn điện thấp (so với vật liệu carbon) và thiểu độ ổn định tong nhiễu chư kì cản trở ứng dụng của chúng tong các tụ điện giả. ĐỂ củi thiện hiệu uất các chất phụ gia catbon được ích hợp vào điện cực. Trong nghiên cứu của Kim ông sự, khi kết hợp vật liệu carbon với NiOVa-Ni(OH): dign dung eda dign exe 6 thé dat 707 Fl. [26] 4) Tụ điện lại “Tạ điện lai (SC lai) có một điện cực giả điện dung giống như pin và một điện cực carbon điện dung.
Thiết kế độc đáo này có thể điều chinh điện áp hoạt động và tăng mật độ năng lượng do quá trình oxi hóa khử điện hóa ở điện cực giả điện dung, [27] Nghiên cứu tiên phong của siêu tụ điện không đối xứng được thực hiện bởi Amatueci và công sự năm 2001 [2| sau đồ đ có nhiễu nghiên cứu sâu hơn để phát triển SC lai, Wu và cộng sự lắp áp siêu tụ điện bắt đổi xứng mật độ năng lượng cao tử đây nano MnO; va graphene với mật độ năng lượng là 30,4 Wh/k vượt trội đáng 10 kể về mặt năng lượng so với các siêu tụ điện có cấu hình đối xứng bao gồm sraphene/graphene (2,8 Wh/k) và MnOz/MnO; (5. [29] Fan và cộng sự đã cải hiện mật độ năng lượng bằng cách sử dụng graphene/MnO; làm điện cực dương Và sợi nano than hoạt nh (ACN) làm điện cực âm trong dung dịch điện phân Na:SO., Mặc dù mật độ năng lượng của SC lai có thé tăng lên khi so sánh với mật độ năng lượng của siêu tụ điện đối xứng, nhưng việc đưa vật liệu Faradaic vào điện cực. để chế tạ siêu tụ điện không đối cứng có thể dẫn đến giảm độ ôn định cũa điện cực ‘Tuy nhiên, các SC lai vẫn mang tiểm năng lớn cho các thiết bị lưu trữ năng lượng tong tương lai vỀ mặt ải hiện mật độ năng lượng.