Chương 1 Kiến thức chuẩn bị 1. Vận trù học Vận trù học (Operations Research-OR) được hình thành từ việc lập kế hoạch của các nhà quân sự trong chiến tranh thế giới thứ II. Mục tiêu của Vận trù học lúc đó là sử dụng sao cho hiệu quả nhất các nguồn lực quân sự bằng cách sử dụng các kỹ thuật định lượng. Kết quả ứng dụng đầu tiên được thực hiện bởi Patrick Blackett.
Trong thế chiến thứ nhất, ông đã thành lập một nhóm được gọi là Circus giúp giảm số lượng pháo phòng không với tầm xa cần thiết để bắn hạ một chiếc máy bay của đối phương từ mức trung bình hơn 20000 đầu đạn ở trận đầu của cuộc chiến xuống chỉ còn 4000 đầu đạn vào năm 1941. Trong những thập kỷ sau chiến tranh, các kỹ thuật này bắt đầu được áp dụng rộng rãi hơn cho các vấn đề trong kinh doanh, công nghiệp và xã hội. Từ đó Vận trù học đã mở rộng và được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp từ hóa dầu đến các hãng hàng không, hậu cần và chính phủ, tập trung vào việc phát triển các mô hình toán học có thể được sử dụng để phân tích và tối ưu hóa các hệ thống phức tạp và trở thành một lĩnh vực được học tập và nghiên cứu. Vận trù học với mục đích nghiên cứu phân bổ nguồn lực tối ưu, vận trù học cung cấp cơ sở hợp lý cho việc ra quyết định bằng cách tìm hiểu và cấu trúc các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tình huống phức tạp, dự đoán hành vi của hệ thống và cải thiện hiệu suất của hệ thống.
Phần lớn công việc thực tế được thực hiện bằng cách sử dụng các kỹ thuật phân tích và số để phát triển và vận dụng các mô hình toán học của các hệ thống tổ chức bao gồm người, máy móc và các hoạt động trong đó. Vai trò của vận trù học trong cả hai lĩnh vực công và lĩnh vực tư nhân đang gia tăng nhanh chóng. Vận trù học giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong giao thông vận tải, lập kế hoạch kiểm kê, kế hoạch sản xuất, hoạt động truyền thông, hoạt động máy tính, quản lý tài sản, quản lý rủi ro, quản lý doanh thu và nhiều lĩnh vực khác. Trong lĩnh vực công, các nghiên cứu của vận trù học có thể tập trung vào chính sách năng lượng, quốc phòng, chăm sóc sức khoẻ, quy hoạch tài nguyên nước, thiết kế và vận hành các hệ thống khẩn cấp đô thị hoặc thực thi pháp luật.
Nghiên cứu trong vận trù học, khoa học quản lý có thể phân loại thành ba lĩnh vực chính sau: Một là nghiên cứu cơ sở hoặc nền tảng trong ba lĩnh vực của toán học (Xác suất, tối ưu hóa, và lý thuyết hệ động lực). Hai là nghiên cứu mô hình trong việc thiết lập mô hình, phân tích chúng về mặt toán học, mã hóa chúng lên máy tính, giải chúng bằng các công cụ phần mềm, đánh giá hiệu quả thu được từ dữ liệu máy tính. Mức này chủ yếu nhờ máy tính và được định hướng chính bởi xác suất và kinh tế lượng và thứ ba là nghiên cứu ứng dụng trong vận trù học, giống như trong các ngành kĩ thuật và kinh tế, sử dụng các mô hình thu được để áp dụng cho các vấn đề thực tế. Trong vận trù học, các nhà nghiên cứu được yêu cầu phải mô hình hóa các vấn đề thực tế bằng cách áp dụng các kỹ thuật toán học, thống kê, ứng dụng máy tính và sau đó tìm các giải pháp tối ưu cho các mô hình bị hạn chế về thời gian, nguồn lực lao động, nguồn lực vật liệu và các quy tắc kinh doanh với các mục tiêu cụ thể.
Các lý thuyết mới, các mô hình toán học đã được phát minh ra trong vận trù học để mô tả và phân tích các hành vi, đặc điểm, sự thay đổi của các vấn đề thực tế, để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 giúp mọi người ra quyết định tốt hơn để phát triển và quản lý quy trình và doanh nghiệp của mình với lợi nhuận tối đa. Mô hình tối ưu có thể được mô tả như sau max ( min) f (x) s. Điều kiện ràng buộc. Các giải pháp đáp ứng các yêu cầu nêu trên thường được gọi là các giải pháp khả thi.
Tối ưu hóa là tìm ra các giải pháp tối ưu trong số các giải pháp khả thi. Vấn đề tối ưu hóa tổ hợp Tối ưu hoá tổ hợp là một nhánh con của tối ưu hóa toán học và xuất hiện trong toán học rời rạc, vận trù học, lý thuyết thuật toán và lý thuyết tính toán phức tạp. Mục tiêu của nghiên cứu tối ưu hóa tổ hợp là tìm ra giải pháp tốt nhất từ một số lượng lớn các giải pháp khả thi. Trong nhiều vấn đề, chẳng hạn như phân công tối ưu, cây khung ngắn nhất, vận chuyển và bài toán người giao hàng, các giải pháp là rời rạc và việc tìm kiếm toàn diện là không khả thi.
So với các ngành toán học ứng dụng khác, tối ưu hóa tổ hợp là tương đối trẻ. Xem xét lịch sử của một loạt các nghiên cứu độc lập đã diễn ra riêng biệt. Chỉ trong những năm 1950, khi công cụ đại số tuyến tính và số nguyên trở nên thống nhất và có sẵn thì lĩnh vực tối ưu tổ hợp bắt đầu thu hút sự chú ý và các mối quan hệ giữa chúng đã được đặt ra. Thật vậy, tối ưu hóa tuyến tính tạo thành bản lề trong lịch sử tối ưu hóa tổ hợp.
Quan niệm ban đầu của Kantorovich và Koopmans được thúc đẩy bởi các ứng dụng tổ hợp, đặc biệt là trong vận chuyển và chuyển tải. Sau khi xây dựng quy hoạch tuyến tính như là một bài toán tổng quát, và phát triển vào năm 1947 bởi Dantzig về phương pháp đơn hình như một công cụ, Dantzig đã cố gắng giải quyết tất cả các bài toán tối ưu hóa tổ hợp với các phương pháp quy hoạch tuyến tính và thường là rất thành công. Tối ưu hóa tổ hợp liên quan đến các mô hình và phương pháp để tối ưu hóa các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lựa chọn rời rạc. Nó bắt nguồn từ lý thuyết quy hoạch tuyến tính, và có liên kết chặt chẽ với toán học rời rạc, lý thuyết xác suất, lý thuyết khoa học máy tính, và lý thuyết tính độ phức tạp tính toán.
Một số vấn đề trong lĩnh vực được nghiên cứu tương đối tốt và chấp nhận giải pháp để tối ưu hóa trong thời gian đa thức. Nhiều bài toán khác là NP–hard. Có ba cách để giải quyết tốt nhất các bài toán tối ưu hóa tổ hợp. Cách thứ nhất là sử dụng một phương pháp liệt kê được đảm bảo để tạo ra một giải pháp tối ưu.
Cách thứ hai là áp dụng một thuật toán xấp xỉ chạy trong thời gian đa thức. Cách thứ ba là sử dụng một số kỹ thuật tìm kiếm kinh nghiệm, mà không có sự đảm bảo trước về chất lượng giải pháp hoặc thời gian chạy. Nhiều vấn đề về quyết định trong cuộc sống thực tế có thể được xây dựng như các vấn đề tối ưu hoá tổ hợp và do đó có sự quan tâm lớn và ngày càng tăng về cả lý thuyết và thực tiễn. Một số vấn đề về bài toán người giao hàng, việc lên kế hoạch mua sắm, tham quan, vấn đề của bác sĩ hoặc người đưa thư.
Tương tự như vậy, phân công công việc, vận tải, kết nối hình thành các vấn đề cơ bản đã được rất nhiều nhà toán học xem xét. Nói chung, các bài toán tối ưu tổ hợp thường có quy mô lớn và khó giải quyết. Do đó, nghiên cứu sự phức tạp về mặt tính toán và thiết kế thuật toán để phát triển các thủ tục giải quyết hiệu quả là trọng tâm của các nhà nghiên cứu trong việc tối ưu hóa tổ hợp. Một vấn đề tối ưu tổ hợp P = (S, f ) có thể được chỉ ra như sau • Các miền biến D1 , D2 , ., Dn , • Các ràng buộc giữa các biến, • Một hàm mục tiêu f tối thiểu hóa (hoặc tối đa hóa), trong đó f : D1 × D2 ×.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Tập hợp tất cả các giải pháp khả thi S = {s ∈ D1 × D2 ×. × Dn | s thỏa mãn các ràng buộc}. S thường được gọi là không gian tìm kiếm (hoặc tập hợp các giải pháp), vì mỗi phần tử của S có thể được xem như một giải pháp khả thi. Để giải quyết Bài toán tối ưu tổ hợp có nghĩa là tìm một giải pháp s∗ ∈ S với giá trị hàm tối thiểu hóa (hoặc tối đa hóa); nghĩa là, f (s∗ ) ≤ f (s), ∀ s∗ ∈ S (hoặc f (s∗ ) ≥ f (s), ∀ s∗ ∈ S, s∗ được gọi là Giải pháp tối ưu của (S, f ) và để sao cho tập S ∗ ⊆ S là tập hợp các giải pháp tối ưu.
Lời giải của vấn đề gia công trên mô hình máy đơn (Xem [1]) 1. Trình tự khả thi và trình tự tối ưu Vấn đề trình tự gia công là một bài toán tối ưu hóa tổ hợp. Các nhiệm vụ, số lượng các máy cần xử lý trong vấn đề trình tự gia công đều là hữu hạn do đó lời giải tối ưu của đại bộ phận vấn đề trình tự đều được tìm ra từ hữu hạn các giải pháp khả thi của vấn đề trình tự ban đầu, làm cho hàm mục tiêu đạt giá trị tối ưu. Trong vấn đề trình tự gia công, ta gọi giải pháp khả thi là trình tự khả thi, giải pháp tốt ưu được gọi là trình tự tối ưu.
Trong vấn đề trình tự gia công, một trình tự khả thi là một dãy thứ tự mà dựa vào đó có thể sắp xếp tất cả các nhiệm vụ gia công trên máy xử lý. Cho vấn đề trình tự gia công 1k wj Cj trong đó, n = 6, p = (12, 4, 7, 11, 6, 5), ω = (4, 2, 5, 5, 6, 3). Một trình tự gia công bất kì của tập các công việc đều là trình tự khả thi, trong đó [T5 , T3 , T6 , T2 , T4 , T1 ] là tối ưu. Cho vấn đề trình tự gia công F2 ||Cmax trong đó n = 5.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Trình tự tối ưu của ví dụ 1. 5 1 4 10 3 Một trình tự gia công bất kỳ của tập các công việc đều là trình tự khả thi, trong đó [J5 , J1 , J4 , J3 , J2 ] là trình tự tối ưu.