CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG, GIỚI HẠN VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI.1 Tính năng và thông số kỹ thuật mạng 4G Hình 1.1 Lộ trình phát triển thông tin di động [1] 1.1 Tính năng mạng 4G Tăng tốc độ truyền dữ liệu: trong điều kiện lý tưởng hệ thống hỗ trợ tốc độ dữ liệu đường xuống đỉnh lên tới 326Mbit/s. Dải tần co giãn được: có khả năng mở rộng từ 1.4MHz, 3MHz, 5 MHz, 10 MHz, 15MHz và 20 MHz cả chiều lên và xuống. Điều này dẫn đến sự linh hoạt sử dụng được hiệu quả băng thông. Mức công suất cao hơn.
Đảm bảo hiệu suất khi di chuyển: chức năng hỗ trợ từ 120 đến 350km/h hoặc thậm chí là 500km/h tùy thuộc vào băng tần. 14 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam. Giảm độ trễ trên mặt phẳng người sử dụng: giảm thời gian để một thiết bị chuyển từ trạng thái nghỉ sang nối kết với mạng và bắt đầu truyền thông tin trên một kênh truyền. Thời gian này phải nhỏ hơn 100ms.
Sẽ không còn chuyển mạch kênh: tất cả sẽ dựa trên IP. Chúng cho phép cung cấp các dịch vụ linh hoạt hơn và đơn giản với các mạng di động. Độ phủ sóng từ 5-100km: trong vòng bán kính 5-100km LTE cung cấp tối ưu về lưu lượng người dùng. Kiến trúc mạng sẽ đơn giản hơn so với mạng 3G hiện thời.
Tuy nhiên mạng LTE vẫn có thể tích hợp một cách dễ dàng với mạng 3G và 2G hiện tại. Điều này hết sức quan trọng cho nhà cung cấp mạng triển khai LTE vì không cần thay đổi toàn bộ cơ sở hạ tầng mạng đã có. Giảm chi phí: là độ phức tạp thấp, các thiết bị đầu cuối tiêu thụ ít năng lượng. Cùng tồn tại với các chuẩn và hệ thống trước: LTE phải cùng tồn tại và có thể phối hợp hoạt động với các hệ thống 3GPP khác.
Người sử dụng LTE sẽ có thể thực hiện các cuộc gọi từ thiết bị đầu cuối của mình và thậm chí khi họ không nằm trong vùng phủ sóng của LTE. Để đạt được mục tiêu này, sẽ có rất nhiều kỹ thuật mới được áp dụng, trong đó nổi bật là kỹ thuật vô tuyến OFDMA (đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao), kỹ thuật anten MIMO.2 Kiến trúc mạng 4G 15 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam.2 So sánh cấu trúc UMTS và LTE [2] LTE được thiết kế để hỗ trợ cho các dịch vụ chuyển mạch gói, đối lập với chuyển mạch kênh truyền thống. Nó hướng đến cung cấp các kết nối IP giữa các UE và PDN mà không có bất kỳ sự ngắt quãng nào đối với những ứng dụng của người dùng trong suốt quá trình di chuyển. Trong khi thuật ngữ LTE đề cập quanh sự tiến triển việc truy cập vô tuyến thông qua E-UTRAN, nó còn được kết hợp cùng các phương tiện phát triển “không vô tuyến” dùng thuật ngữ SAE bao gồm mạng lõi gói phát triển EPC.
LTE cùng với SAE tạo thành hệ thống gói phát triển EPS.2 cho thấy sự khác nhau về cấu trúc của UMTS và LTE. Song song với truy nhập vô tuyến LTE, mạng gói lõi cũng đang phát triển lên cấu trúc tầng SAE. Cấu trúc mới này được thiết kế để tối ưu hiệu suất mạng, cải thiện hiệu quả chi phí và thuận tiện thu hút phần lớn dịch vụ trên nền IP. Mạng truy nhập vô tuyến RAN (Radio Access Network): mạng truy nhập vô tuyến của LTE được gọi là E-UTRAN và một trong những đặc điểm chính 16 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam.
của nó là tất cả các dịch vụ, bao gồm dịch vụ thời gian thực, sẽ được hỗ trợ qua những kênh gói được chia sẻ. Phương pháp này sẽ tăng hiệu suất phổ, làm cho dung lượng hệ thống trở lên cao hơn. Một kết quả quan trọng của việc sử dụng truy nhập gói cho tất cả dịch vụ là sự tích hợp cao hơn giữa những dịch vụ đa phương tiện và giữa những dịch vụ cố định và không dây. Có nhiều loại chức năng khác nhau trong mạng tế bào.
Dựa vào chúng, mạng có thể được chia thành hai phần: mạng truy nhập vô tuyến và mạng lõi. Những chức năng như điều chế, nén, chuyển giao thuộc về mạng truy nhập. Còn những chức năng khác như tính cước hoặc quản lý động là thành phần của mạng lõi. Với LTE, mạng truy nhập là E-UTRAN và mạng lõi là EPC.
Cấu trúc cơ bản của LTE Hình 1.3 Kiến trúc mạng 4G LTE/SAE[3] 17 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam.3 cho thấy các thành phần chính của một mạng lõi và mạng truy nhập vô tuyến LTE. So sánh với UMTS, mạng vô tuyến ít phức tạp hơn. Mục đích chính của LTE là tối thiểu hóa số node. Vì vậy, nguời ta đã quyết định rằng các RNC nên được gỡ bỏ, và chức năng của chúng đã được chuyển một phần sang các trạm cơ sở và một phần sang nút Gateway của mạng lõi.
Trạm gốc mới phức tạp hơn NodeB trong mạng truy nhập vô tuyến WCDMA/HSPA, và được gọi là eNodeB. Các eNodeB có tất cả những chức năng cần thiết cho mạng truy nhập vô tuyến LTE, kể cả những chức năng liên quan đến quản lý tài nguyên vô tuyến. Giao diện vô tuyến sử dụng trong E-UTRAN gồm giao diện S1 và giao diện X2. Trong đó S1 là giao diện vô tuyến kết nối giữa eNodeB và mạng lõi.
Giao diện S1 chia làm hai loại là S1-U là giao diện giữa eNodeB và SAE-GW và S1-MME là giao diện giữa eNodeB và MME. Giao diện X2 là giao diện giữa các eNodeB với nhau. Mạng lõi EPC: Chịu trách nhiệm điều khiển tổng thể UE và thiết lập các kênh mạng. Cùng một mục đích như E-UTRAN, số node trong EPC đã được giảm.
EPC chia luồng dữ liệu người dùng thành mặt phẳng người dùng và mặt phẳng điều khiển. Một node cụ thể được định nghĩa cho mỗi mặt phẳng, cộng với Gateway chung kết nối mạng LTE với Internet và những hệ thống khác. EPC gồm một vài thực thể chức năng: MME: chịu trách nhiệm xử lý những chức năng mặt bằng điều khiển, liên quan đến quản lý thuê bao và quản lý phiên. S-GW: là vị trí kết nối của giao tiếp dữ liệu gói với E-UTRAN.
Nó còn hoạt động như một node định tuyến đến những kỹ thuật 3GPP khác. 18 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam. P-GW: là điểm đầu cuối cho những phiên hướng về mạng dữ liệu gói bên ngoài. Nó cũng là Router đến mạng Internet.
PCRF: điều khiển việc tạo ra bảng giá cấu hình hệ thống con đa phương tiện IP IMS (the IP Multimedia Subsystem) cho mỗi người dùng. HSS: là nơi lưu trữ dữ liệu của thuê bao cho tất cả dữ liệu người dùng. Nó là cơ sở dữ liệu chủ tâm trong trung tâm của nhà khai thác. Mạng truy nhập E-UTRAN Mạng truy nhập của LTE, E-UTRAN, chỉ có các eNodeB.
Không có bộ điều khiển chung trong E-UTRAN cho lưu lượng thông thường (không phải quảng bá) của người sử dụng, vì thế kiến trúc E-UTRAN được coi là “phẳng”. E-UTRAN chịu trách nhiệm cho tất cả các chức năng liên quan đến vô tuyến dưới đây: Nén tiêu đề: các tiêu đề của gói IP chiếm băng thông khá lớn nhất là đối với VoIP, vì thế nén tiêu đề cho phép sử dụng hiệu suất giao diện vô tuyến. An ninh: tất cả các số liệu được phát trên giao diện vô tuyến đều phải được mật mã hóa. Kết nối đến EPC: bao gồm báo hiệu đến MME và đường truyền kênh mang đến S-GW 1.3 Một số công nghệ quan trọng của 4G.
LTE sử dụng hai kênh radio khác nhau cho chuyển tín hiệu theo đường dẫn lên và xuống, giữa tháp thu phát sóng với thiết bị và ngược lại. Đối với đường dẫn xuống, LTE sử dụng kỹ thuật OFDMA (Truy cập đa phân chia theo tần số trực giao – Orthogonal Frequency Division Mutiple Access), trong đó đòi hỏi công nghệ MIMO. MIMO là viết tắt của Multiple Input, Multiple Output, 19 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam. công nghệ truyền thông cho phép các thiết bị phát và nhận sử dụng hai hay nhiều ăng ten để giảm đáng kể độ trễ và tăng tốc độ trong một kênh nhất định.
Chuẩn LTE có thể chứa một tổ hợp 4x4 MIMO (số đầu tiên là số ăng ten phát tín hiệu, số thứ hai là số ăng ten nhận tín hiệu). Đối với đường dẫn lên, LTE sử dụng tín hiệu theo kỹ thuật SC-FDMA (Truy cập đa phân chia theo tần số mạng đơn – Single Carrier Frequency Division Multiple Access). Nguyên nhân SC-FDMA tốt hơn cho đường dẫn lên là do kỹ thuật này có tỷ lệ công suất đỉnh trên trung bình tốt hơn OFDMA.2 Giới hạn và mục đích của đề tài. Với kiến trúc của mạng 4G đã nêu trên, đề tài sẽ đi sâu vào phần truy nhập vô tuyến E –UTRAN.
Dựa vào tính năng của eNB đưa ra lý thuyết quy hoạch eNB ID/Cell ID, định cỡ và quy hoạch TAC/TAL đảm bảo hiệu quả cho quá trình paging khi UE ở trạng thái Idle sang trạng thái active không vượt có 100ms.3 Kết luận chương 1. Chương 1 đã giới thiệu kiến trúc mạng 4G, chức năng các thành phần trong mạng 4G như mạng truy nhập E-UTRAN, mạng lõi EPC bao gồm chức năng của MME, SGW, PGW, HSS, PCRF, qua đó nêu ra được ưu điểm so với các công nghệ mạng đã triển khai trước đó. Ngoài ra chương còn nêu ra các kỹ thuật mới sử dụng trong công nghệ mạng LTE như OFDMA , MIMO cho đường xuống, SC-FDMA cho đường lên. Dựa vào đó nêu nên giới hạn cũng như mục đích của đề tài là đi sâu và phần nghiên cứu mạng truy nhập vô tuyến E-UTRAN, cụ thể là dựa vào tính năng của eNB để đưa ra giải pháp quy hoạch cũng như định cơ eNB/cell ID, tính toán lên dung lượng cell.
Để giúp cho việc 20 Đề tài – Nghiên cứu và thực hiện tối ưu hóa mạng vô tuyến trong hệ thống thông tin di động 4G của Mobifone Việt Nam. quản lý các trạm cũng như tính toán thông lượng các trạm thì việc định cỡ TA/TAL là cần thiết.