Chương 1 Hệ thống thông tin di động GSM Hay nói cách khác, VLR là cơ sở dữ liệu trung gian lưu trữ tạm thời thông tin về thuê bao trong vùng phục vụ MSC/VLR được tham chiếu từ cơ sở dữ liệu HLR. VLR bao gồm: Các số nhận dạng: IMSI, MSISDN, TMSI. Số hiệu nhận dạng vùng định vị đang phục vụ MS Danh sách các dịch vụ mà MS được và bị hạn chế sử dụng Trạng thái của MS ( bận: busy; rỗi: idle) 1. Thanh ghi nhận dạng thiết bị (EIR - Equipment Identity Register) EIR có chức năng kiểm tra tính hợp lệ của ME thông qua số liệu nhận dạng di động quốc tế (IMEI-International Mobile Equipment Identity) và chứa các số liệu về phần cứng của thiết bị.
Một ME sẽ có số IMEI thuộc một trong ba danh sách sau: 1. Nếu ME thuộc danh sách trắng (White List) thì nó được quyền truy nhập và sử dụng các dịch vụ đã đăng ký. Nếu ME thuộc danh sách xám (Gray List), tức là có nghi vấn và cần kiểm tra. Danh sách xám bao gồm những ME có lỗi (lỗi phần mềm hay lỗi sản xuất thiết bị) nhưng không nghiêm trọng tới mức loại trừ khỏi hệ thống 3.
Nếu ME thuộc danh sách đen (Black List), tức là bị cấm không cho truy nhập vào hệ thống, những ME đã thông báo mất máy. Khối trung tâm nhận thực AuC (Aunthentication Center) AuC được nối đến HLR, chức năng của AuC là cung cấp cho HLR các tần số nhận thực và các khoá mật mã để sử dụng cho bảo mật. Đường vô tuyến cũng được AuC cung cấp mã bảo mật để chống nghe trộm, mã này được thay đổi riêng biệt cho từng thuê bao. Cơ sở dữ liệu của AuC còn ghi nhiều thông tin cần thiết khác khi thuê bao đăng ký nhập mạng và được sử dụng để kiểm tra khi thuê bao yêu cầu cung cấp dịch vụ, tránh việc truy nhập mạng một cách trái phép.
Phân hệ khai thác và bảo dưỡng (OSS) OSS (Operation and Support System) thực hiện 3 chức năng chính: 1) Khai thác và bảo dưỡng mạng. 11 Chương 1 Hệ thống thông tin di động GSM 2) Quản lý thuê bao và tính cước. 3) Quản lý thiết bị di động. Khai thác và bảo dưỡng mạng Khai thác: Là hoạt động cho phép nhà khai thác mạng theo dõi hành vi của mạng như tải của hệ thống, mức độ chặn, số lượng chuyển giao giữa hai cell.
Nhờ vậy nhà khai thác có thể giám sát được toàn bộ chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp cho khách hàng và kịp thời nâng cấp. Khai thác còn bao gồm việc thay đổi cấu hình để giảm những vẫn đề xuất hiện ở thời điểm hiện thời, để chuẩn bị tăng lưu lượng trong tương lai và mở rộng vùng phủ sóng. Ở hệ thống viễn thông hiện đại, khai thác được thực hiện bằng máy tính và được tập trung ở một trạm. Bảo dưỡng: Có nhiệm vụ phát hiện, định vị và sửa chữa các sự cố và hỏng hóc, nó có một số quan hệ với khai thác.
Các thiết bị ở hệ thống viễn thông hiện đại có khả năng tự phát hiện một số các sự cố hay dự báo sự cố thông qua kiểm tra. Bảo dưỡng bao gồm các hoạt động tại hiện trường nhằm thay thế các thiết bị có sự cố, cũng như việc sử dụng các phần mềm điều khiển từ xa. Hệ thống khai thác và bảo dưỡng có thể được xây dựng trên nguyên lý của TMN (Telecommunication Management Network - Mạng quản lý viễn thông). Lúc này, một mặt hệ thống khai thác và bảo dưỡng được nối đến các phần tử của mạng viễn thông (MSC, HLR, VLR, BSC, và các phần tử mạng khác trừ BTS).
Mặt khác hệ thống khai thác và bảo dưỡng được nối tới máy tính chủ đóng vai trò giao tiếp người - máy. Theo tiêu chuẩn GSM hệ thống này được gọi là trung tâm vận hành và bảo dưỡng (OMC - Operation and Maintenance Center). Quản lý thuê bao Bao gồm các hoạt động quản lý đăng ký thuê bao. Nhiệm vụ đầu tiên là nhập và xoá thuê bao khỏi mạng.
Đăng ký thuê bao cũng có thể rất phức tạp, bao gồm nhiều dịch vụ và các tính năng bổ sung. Nhà khai thác có thể thâm nhập được các thông số nói trên. Một nhiệm vụ quan trọng khác của khai thác là tính cước các 12 Chương 1 Hệ thống thông tin di động GSM cuộc gọi rồi gửi đến thuê bao. Khi đó HLR, SIM-Card đóng vai trò như một bộ phận quản lý thuê bao.
Quản lý thiết bị di động Quản lý thiết bị di động được bộ đăng ký nhận dạng thiết bị EIR thực hiện. EIR lưu trữ toàn bộ dữ liệu liên quan đến trạm di động MS. EIR được nối đến MSC qua đường báo hiệu để kiểm tra tính hợp lệ của thiết bị. Trong hệ thống GSM thì EIR được coi là thuộc phân hệ chuyển mạch NSS.
13 Chương 2 Các chỉ số chất lượng hệ thống Phần II CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG MẠNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM Chương 2 CÁC CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG 2. Giới thiệu chung về các chỉ số chất lượng hệ thống Khác với mạng PSTN (Public Switched Telephone Network) truyền thống, mạng PLMN có cấu trúc cell, có các cơ chế điều khiển như chuyển giao, cập nhật thông tin vị trí. Trong các mạng PLMN ngoài các dịch vụ cơ bản như thoại, Fax và các dịch vụ gia tăng như chuyển cuộc gọi, chờ cuộc gọi, hạn chế cuộc gọi. mạng PLMN còn cung cấp thêm các loại hình dịch vụ đặc thù như dịch vụ chuyển vùng, dịch vụ Prepaid trên cơ sở triển khai thêm các phần tử của mạng thông minh (IN).
Chính vì vậy đánh giá chất lượng dịch vụ và chất lượng mạng của mạng PLMN sẽ có một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá riêng. Phân hệ vô tuyến có đặc trưng riêng và là phần quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của toàn mạng. Tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ của Bộ Bưu chính viễn thông có đưa ra yêu cầu về chất lượng phủ sóng, liên quan chặt chẽ tới chỉ tiêu chất lượng của phân hệ vô tuyến. Những chỉ tiêu chất lượng như chỉ số chất lượng đường lên, đường xuống, tỷ số C/I.
là những chỉ tiêu chính quyết định đến chất lượng của phân hệ vô tuyến. Việc đo đạc đánh giá những chỉ tiêu này sẽ trợ giúp đắc lực cho công tác quy hoạch mạng, nâng cao chất lượng mạng lưới cũng như tìm biện pháp khắc phục suy giảm chất lượng mạng phân hệ vô tuyến. 14 Chương 2 Các chỉ số chất lượng hệ thống Chất lượng của các mạng vô tuyến tế bào có thể được đo bằng việc sử dụng nhiều loại chỉ số chất lượng (KPI) khác nhau. Hơn nữa, nhiều KPI có thể được thu thập hoặc trong quá trình đo Drive test hoặc từ số liệu thống kê hệ thống quản lý mạng (NMS).
Vì các số liệu thống kê NMS đưa ra chất lượng của toàn bộ mạng nên chúng đặc trưng hơn so với các kết quả của quá trình Drive test. Chỉ số KPI dựa vào quá trình Drive test chỉ đóng vai trò trong việc giám sát hoạt động của mạng, khi các KPI tương tự không có được từ số liệu thống kê NMS. Thêm vào đấy, các số liệu thống kê có thể cho biết các giờ cao điểm hoặc hiệu suất trung bình từng ngày. Theo truyền thống, các nhà khai thác mạng tế bào đã đo và xác định mức chuẩn cho hiệu suất hoạt động của mạng của họ, thường sử dụng tỉ số BER và tỉ lệ rớt cuộc gọi (DCR) để đánh giá chất lượng tín hiệu và cũng tương ứng với tỉ lệ mất kết nối.
Ngoài ra tỉ lệ thiết lập cuộc gọi thành công (CSSR) và tỉ lệ chuyển giao thành công (HOSR) được sử dụng để đánh giá chất lượng của kênh báo hiệu liên quan tới các cuộc gọi và chuyển giao. Tỷ lệ thiết lập cuộc gọi thành công (CSSR) Thực tế, không phải tất cả các khách hàng thực hiện cuộc gọi không thành công lần đầu tiên đều do chất lượng mạng không tốt, ví dụ như các kênh tín hiệu kém, nghẽn. Để xác định chất lượng mạng theo khía cạnh mức độ thực hiện cuộc gọi trong mạng, tham số tỷ lệ cuộc gọi thiết lập thành công được sử dụng. Tỷ lệ cuộc gọi thiết lập thành công cho thấy khả năng khách hàng thiết lập thành công cuộc gọi (sau lần gọi đầu tiên).
Giá trị CSSR cao hơn, mức độ hài lòng của khách hàng sẽ tốt hơn. Từ định nghĩa ở trên, tham số tỷ lệ cuộc gọi thiết lập thành công (CSSR) có thể được xác định như sau: CSSR = (Tổng các cuộc gọi được nối thông)/(tổng cuộc gọi thực hiện) Tổng các cuộc gọi được nối thông (Total Connected Through Calls) có thể được hiểu theo khía cạnh kỹ thuật là các cuộc gọi được kết nối thành công đến số bị gọi sau khi khách hàng ấn nút “call” trên máy di động. Tuy nhiên trên phương diện vô tuyến, một cuộc gọi của khách hàng được xem như kết nối thành công nếu TCH của cell được MS chiếm thành công sau thủ tục gán kênh TCH từ BSC thành công. 15 Chương 2 Các chỉ số chất lượng hệ thống Trong GSM, quá trình khởi tạo cuộc gọi được chia thành 3 dai đoạn: Giai đoạn RACH/PAGING Giai đoạn SDCCH Giai đoạn gán kênh TCH Trong hầu hết các hệ thống GSM (phía cung cấp dịch vụ), rất khó để có được các số liệu chính xác tại giai đoạn RACH/PAGING tại giao diện vô tuyến, do đó trong tài liệu này giai đoạn RACH/PAGING tạm thời không được sử dụng trong quá trình đánh giá CSSR.
Khi bỏ qua giai đoạn RACH/PAGING, CSSR có thể được tính như sau: CSSR = (tỷ lệ SDCCH thành công)*(tỷ lệ gán kênh bình thường TCH thành công) 2. Tỷ lệ SDCCH thành công (SDCCH Successful Rate (SSR)) Giai đoạn SDCCH được xem như thành công nếu cuối giai đoạn SDCCH thủ tục gán kênh TCH (TCH assignment (TCH attempts)) được bắt đầu. Giai đoạn SDCCH không thành công do các nguyên nhân sau: Chặn SDCCH: không có kênh SDCCH rỗi sau thủ tục SDCCH attempts (hoặc sau yêu cầu kênh SDCCH). Lỗi chiếm (SDCCH Seizure Failure): MS không thể chiếm được kênh SDCCH đã được phân định do lỗi hệ thống hoặc lỗi trong quá trình giải mã báo hiệu, vv.
Rơi SDCCH (SDCCH Drop): Kết nối bị ngắt trong giai đoạn truyền SDCCH do lỗi hệ thống, tín hiệu RF yếu, vv. Do đó chúng ta có thể đưa ra công thức xác định tỷ lệ thành công SDCCH (SSR) như sau: SSR = (SDCCH chiếm - SDCCH rơi)/ (SDCCH thực hiện).