Chương 1), luận văn này được chia thành 4 chương với bố cục như sau. Chương 2: Tình hình nghiên cứu tổng quan của thuật toán tối ưu và việc áp dụng để giải quyết bài toán tối ưu kết cấu được sẽ được giới thiệu. Chương 3: Thuật toán KO và thuật toán DE sẽ được giới thiệu một cách chi tiết các chiến lược tìm kiếm trước tiên, sau đó một chiến lược di chuyển mới được đề xuất dựa vào sự lai tạo của hai thuật toán này gọi là KO-DE sẽ được đề xuất và miêu tả một cách chie tiết. Chương 4: Các ví dụ số sẽ được sử dụng để chứng minh sự hiệu quả của thuật toán KO-DE.
Chương 5: Chương này trình bày việc áp dụng thuật toán KO-DE để giải quyết cho bài toán dàn thép cơ bản. Các kết quả đạt được trong chương này sẽ được so sánh với các kết quả đã được công bố sử dụng với các thuật toán khác. Mục đích của việc so sánh là để chứng minh sự phù hợp và tin cậy của thuật toán KO-DE cho bài toán dàn thép. Các kết luận và các đề xuất sẽ được tóm tắt và trình bày trong chương này.
5 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Sự phát triển của thuật toán tối ưu Dựa vào cảm hứng để đề xuất thuật toán tối ưu, các thuật toán tối ưu có thể chia làm ba nhóm theo như định nghĩa của Fister (Fister Jr, Yang, Fister, Brest, & Fister, 2013) bao gồm: Nhóm 1: là cảm hứng từ sự tiến hóa (Gong, Sun, & Ji, 2013; Mühlenbein, Gorges-Schleuter, & Krämer, 1988). Thuật toán tối ưu đã phát triển từ rất sớm, mộ trong những thuật toán rất nổi tiếng là thuật toán di truyền - Genetic algorithm (GA) được đề xuất bởi Holland (Goldberg & Holland, 1988). Trong GA, mỗi biến được coi là một gen. Dựa trên giá trị của hàm mục tiêu được tính toán ở lần lặp trước, một lựa chọn ngẫu nhiên trong số chúng để tạo ra các gen mới sẽ được đảm bảo ở lần lặp tiếp theo.
Theo cách này, mỗi gen mới sẽ có xác suất cao hơn trong việc tìm ra các giá trị tối ưu toàn cục. Các cơ chế này được thiết lập tương tự như những gì đang xảy ra trong tự nhiên. Cuối cùng, một số gen của các cá thể trong quần thể được thay đổi ngẫu nhiên để bắt chước đột biến. Sự thành công của thuật toán GA đã chứng minh tính hiệu quả của việc áp dụng các quy luật tự nhiên vào bài toán tối ưu.
Nó tạo động lực mạnh mẽ cho lĩnh vực mới về kỹ thuật tối ưu hóa. Sự xuất hiện của thuật toán này đã mang lại những lợi thế khi giải quyết các bài toán tối ưu trong trường hợp không thể giải được bằng các lý thuyết toán học thông thường. Thuật toán này đã giải quyết được nhiều bài toán trong rất nhiều lĩnh vực mang lại những kết quả vô cũng hứa hẹn cho việc áp dụng các thuật toán thông minh để giải quyết các bài toán của nhiều lĩnh vực khác nhau. Thuật toán này dựa vào sự mô phỏng lý thuyết tiên hóa của Darwinian.
Với sự ra đời của thuật toán GA, đã có rất nhiều cả tiến của thuật toán này để áp dụng phù hợp với các bài toán tối ưu cụ thể, các phiên bản cải tiến của thuật toán GA có thể được tìm thấy trong các nghiên cứu của (Gong, Sun, & Miao, 2016; Grefenstette, 2013; Tang, Man, Kwong, & He, 1996). Một thuật toán nổi tiếng khác thuộc về nhóm này có thể kể đến như thuật toán chiến lược tiến hóa - Evolution Strategy (ES) (Beyer & Schwefel, 2002), thuật toán lập trình di truyền Genetic Programming (GP) (Koza & Koza, 1992), thuật toán sự phát triển khác biệt - Differential Evolution (DE) (Storn & Price, 1997). Thuật toán tối ưu hóa dựa trên địa lý sinh học - Biogeography-Based Optimization algorithm (BBO) (Simon, 2008). Hầu hết những thuật toán này đều có những đặc trưng của sự lai tạo các bước di chuyển từ những bước di chuyển của các giải pháp ban đầu để tạo ra những giải pháp mới tiềm năng và hiệu quả.
Những ưu điểm của các thuật toán này chính là sự mở rộng hơn các không gian tìm kiếm mới, từ đó có khả năng thoát khỏi được tối ưu cục bộ. Tuy nhiên mức độ chính xác của hần hết các thuật toán dạng này không được đánh giá cao bằng các thuật toán thuộc nhóm khác. 6 Nhóm 2: Nhóm này được định nghĩa là các nhóm mà chiến lược di chuyển được lấy cảm hứng từ các hiện tượng vật lý trong tự nhiên. Một trong những thuật toán ra đời sớm nhất của nhóm này là thuật toán mô phỏng - Simulated annealing (SA) (Kirkpatrick, Gelatt, & Vecchi, 1983).
Theo đó, ở mỗi bước lặp lại, SA đăng ký một số trạng thái lân cận s* của trạng thái hiện tại và quyết định một cách xác suất xem có nên chuyển sang trạng thái s* hay giữ nguyên trạng thái s hay không. Những xác suất này cuối cùng dẫn hệ thống chuyển sang trạng thái năng lượng thấp hơn. Thông thường, bước này được lặp lại cho đến khi hệ thống đạt đến trạng thái đủ tốt. Gần đây, có rất nhiều thuật toán được đề xuất dựa vào các hiện tượng vật lý như thuật toán tìm kiếm cục bộ dựa trên lực hấp dẫn - Gravitational Local Search (GLSA) (Webster & Bernhard, 2003).
Thuật toán lực hấp dẫn - Gravitational Search Algorithm (GSA) (Rashedi, Nezamabadi-pour, & Saryazdi, 2009). Đặc điểm chung của hai thuật toán này là các bước di chuyển sẽ được thiết lập dựa trên việc tính toán lực hấp dẫn tương tác của từng giải pháp với các giải pháp còn lại. Đặc điểm của lực hấp dẫn này sẽ được thiết kế sao cho nó có xu hướng giảm dẫn khi số vòng lặp tăng lên, nhờ đó các bước di chuyển sau sẽ có xu hướng ngắn hơn các bước di chuyển trước và tiếp cận gần đến giá trị tối ưu toàn cục tốt hơn. Một thuật toán khác cũng được đề xuất gần đây là thuật toán nguyên tử - Atom search (ASO) (Zhao, Wang, & Zhang, 2019).
Thuật toán ASO cố gắng bắt chước chuyển động của các nguyên tử theo thế năng Lennard-Jones được phát triển giữa các nguyên tử tương tác. Thuật toán lực trung tâm - Central Force Optimization (CFO) (Formato, 2007), thuật toán hố đen Black Hole (Hatamlou, 2013), thuật toán không gian uốn cong - curved space optimization (CSO) (Moghaddam, Moghaddam, & Cheriet, 2012) là những thuật toán nổi tiếng khác được đề xuất trong nhóm này. Nhóm 3: Nhóm cuối cùng được biết đến như nhóm xuất hiện nhiều thuật toán nhất tính đến thời điểm hiện tại. Nhóm này thông thường được lấy cảm hứng từ bầy đàn.
Các thuật toán này chủ yếu bắt chước hành vi tập thể của bầy các côn trùng, đàn động, đàn chim hoặc đàn cá quan sát được trong tự nhiên (Camazine, et al., 2020; Moussaid, Garnier, Theraulaz, & Helbing, 2009). Cơ chế tìm kiếm tối ưu toàn cục trong các thuật toán này gần giống với thuật toán ở nhóm 1 và nhóm 2. Tuy nhiên việc tìm kiếm được thực hiện bởi các tác nhân điều hướng bằng cách sử dụng trí thông minh bầy đàn để mô phỏng chiến lược di chuyển trong mỗi cá thể (Bonabeau, Marco, Dorigo, Théraulaz, & Theraulaz, 1999; Chakraborty & Kar, 2017; Patnaik, Yang, & Nakamatsu, 2017). Các thuật toán này đã trở nên phổ biến trong việc giải quyết các vấn đề tối ưu vì khả năng tìm kiếm toàn cục mạnh mẽ của chúng.
Nền tảng của các thuật toán này dựa trên việc mô phỏng cách thức di chuyển, tìm kiếm thức ăn, điều phối các hành động theo hành vi và chia sẻ thông tin giữa các cá thể của bầy đàn. Hussain (Hussain, Salleh, Cheng, & Shi, 2019) đã báo cáo xu hướng cảm 7 hứng được các nhà nghiên cứu ưa thích để thiết kế các thuật toán metaheuristic mới như trong Hình 2. Có thể nhận thấy rằng cảm hứng từ sự phát triển và tồn tại của các cá thể bầy đàn trong tự nhiên chiếm một tỉ trọng lớn nhất so với việc các thuật toán được lấy cảm hứng khác. Điều này chứng minh được sự phong phú của các thuật toán bầy đàn với số lượng công bố ngày càng nhiều trong những năm gần đây.
Các thuật toán phổ biến của nhóm bầy đàn được trình bày như trong Bảng 2. 1: Biểu đồ phân bố xu hướng được lựa chọn để đề xuất các thuật toán mới Bảng 2. 1: Các thuật toán tối ưu hóa lấy cảm hứng từ các hành vi của bầy đàn trong tự nhiên đã được công bố trong những năm gần đây. Năm Thuật toán công bố 1.
Particle swarm optimization (PSO) (Kennedy & Eberhart, 1995) 1995 2. Ant colony optimization (ACO) (Dorigo, Maniezzo, & Colorni, 1996) 1996 3. Bacterial foraging optimization (BFO) 2002 4. Artificial bee colony algorithm (ABC) (Basturk, 2006) 2005 5.
Glow-worm swarm optimization (GSO) (Krishnanand & Ghose, 2009) 2005 7. Shuffled frog leaping algorithm (SFLA) (Eusuff, Lansey, & Pasha, 2006) 2006 8. Cat Swarm Optimization (CAT) (Chu, Tsai, & Pan, 2006) 2006 8 9. Bees algorithm (BA) (Pham, et al.
Wasp Swarm Algorithm (WSO) (Pinto, Runkler, & Sousa, 2007) 2007 11. Wolf pack search algorithm (C. Yang, Tu, & Chen, 2007) 2007 13. Bee Collecting Pollen Algorithm (BCPA) (Lu & Zhou, 2008) 2008 14.
Dolphin Partner Optimization (DPO) (Shiqin, Jianjun, & Guangxing, 2009) 2009 16. Bird Mating Optimizer (BMO) (Askarzadeh & Rezazadeh, 2013) 2012 20. Fruit fly Optimization Algorithm (FOA) (Pan, 2012) 2012 22. The Smell Detection Agent (SDA) (A.
Grey Wolf optimizer (GWO) (Mirjalili, Mirjalili, & Lewis, 2014) 2014 25. The ant lion optimizer (ALO) (Mirjalili, 2015) 2015 26. Dragonfly algorithm DA (Mirjalili, 2016a) 2016 27. The Whale Optimization Algorithm (WOA) (Mirjalili & Lewis, 2016) 2016 28.
Killer Whale Algorithm (KWA) (Biyanto, et al. Grasshopper optimization algorithm (GOA) (Saremi, Mirjalili, & Lewis, 2017) 2017 30. Salp Swarm Algorithm (SSA) (Mirjalili, et al. Emperor Penguins Colony (EPC) (Harifi, Khalilian, Mohammadzadeh, & 2019 Ebrahimnejad, 2019) 32.
A mayfly optimization algorithm (MA) (Zervoudakis & Tsafarakis, 2020) 2020 33. Horse herd Optimization Algorithm (HOA) (MiarNaeimi, Azizyan, & Rashki, 2021 2021) 34. Wild horse optimizer (WHO) (Naruei & Keynia, 2021) 2021 35. Honey Badger Algorithm (HBA) (Hashim, Houssein, Hussain, Mabrouk, & 2021 Al-Atabany, 2022) Rõ ràng là các thuật toán lấy cảm hứng từ bầy đàn chiếm ưu thế khi nó được sử dụng rộng rãi để đề xuất một thuật toán mới.
Điều này được giải thích bởi những lý do sau: (i) Tính đơn giản là ưu điểm chính của các thuật toán lấy cảm hứng từ bầy đàn trong tự nhiên, phần lớn các thuật toán trong lĩnh vực này tuân theo một cấu trúc đơn giản và được lấy cảm hứng từ các khái niệm đơn giản. Điều này thúc đẩy một mô phỏng toán học để tạo ra các dạng trí tuệ bầy đàn khác nhau như được đưa ra trong Bảng 2. Điều này có nghĩa là quá trình dẫn xuất của mô hình toán học bị bỏ qua.