Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm về chức phận, cấu trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [14]. TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ. TTDD của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn cộng đồng [14].
Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Bốn nhóm chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em [6]: - Các chỉ tiêu nhân trắc - Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống - Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có liên quan đến ăn uống - Các xét nghiệm hóa sinh. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo có 3 chỉ tiêu nhân trắc nên dùng là cân nặng theo tuổi, cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi [38]. Cụ thể như sau: Cân nặng theo tuổi: đánh giá SDD nhẹ cân. Chiều cao theo tuổi: đánh giá SDD thấp còi.
Cân nặng theo chiều cao: đánh giá SDD gầy còm và thừa cân, béo phì ở trẻ em. Suy dinh dưỡng Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ. SDD protein năng lượng thường kèm theo là các bệnh nhiễm khuẩn.
Suy dinh dưỡng thấp còi SDD thấp còi là biểu hiện của chiều cao thấp so với tuổi ở trẻ em kéo dài trong quá khứ. Nguyên nhân chủ yếu do thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết phối hợp với điều kiện vệ sinh nghèo nàn, mắc các bệnh nhiễm trùng nhiều lần và thiếu sự chăm sóc cần thiết. Cách phân loại tình trạng dinh dưỡng Phân loại theo WHO 2006 SDD trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gầy còm [2]. Theo khuyến nghị của WHO, các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá TTDD là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC).
Thiếu dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS (National Center for Health Statistics) của Hoa Kỳ [37]. Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi trong cộng đồng. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quần thể tham chiếu NCHS để đánh giá TTDD của trẻ em không phù hợp với thực tế vì vậy để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em. Từ năm 2006 WHO đưa ra “chuẩn tăng trưởng mới ở trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới [40].
WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng < 2 độ lệch chuẩn (<- 2SD) so với quần thể WHO 2005 để đánh giá trẻ bị SDD. Chỉ số Z-score được tính theo công thức Công thức tính Z-score Bảng 1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ được đánh giá theo quần thể tham chiếu WHO với 3 chỉ số theo Z-Score Z – Score CC/T CN/T CN/CC ≥-2 Không SDD Không SDD Không SDD 6 < -2 Thấp còi Nhẹ cân Gầy còm < -3 Thấp còi nặng Nhẹ cân nặng Gầy còm nặng Nguồn: WHO (2006), Child Growth Standard, Geneva. Các giá trị ngưỡng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của chỉ số nhân trắc dinh dưỡng trẻ em [36] [34].
Chỉ số Giá trị ngưỡng hiện mắc có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Nhẹ cân < 10% : thấp 10-19% : trung bình 20-29% : cao ≥ 30% : rất cao Thấp còi < 20% : thấp 20-29% : trung bình 30-39% : cao ≥ 40% : rất cao 1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em 1. Tình hình suy dinh dưỡng trên thế giới Theo báo cáo về tình hình an ninh lương thực thế giới năm 2010, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy có giảm sau 15 năm nhưng vẫn còn ở mức cao (biểu đồ 1. Do đó, tình trạng này sẽ khó có khả năng đạt được “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’ - giảm một nửa tỷ lệ SDD tại các nước đang phát triển từ 20% vào năm 1990-1992 xuống còn 10% vào năm 2015 [41].
Số ca suy dinh dưỡng trên thế giới qua các năm Trong khi 98% nạn đói trên thế giới tập trung ở các nước đang phát triển và chiếm đến 16% dân số thế giới [41] thì tại từng khu vực cho thấy châu Á Thái Bình Dương là nơi tập trung chủ yếu của tình trạng SDD (bảng 1.3), đã tạo nên gánh nặng lớn về kinh tế khi cải thiện tình trạng SDD tại khu vực này cũng như cản trở việc đạt được mục tiêu thiên niên kỷ thứ nhất. Thực trạng suy dinh dưỡng theo khu vực trên thế giới Châu Á Thái Cận Mỹ Latinh và đông- Nước đã Tổng Năm Bình Dương Sahara Caribe Bắc Phi phát triển (triệu) 2009 [39] 642 265 53 42 15 1.020 2010 [41] 578 239 53 37 19 925 Riêng khu vực Đông Nam Á (2001), tình trạng SDD trẻ dưới 5 tuổi cụ thể là thể nhẹ cân chiếm 28,9%, thể thấp còi 33% và thể gầy còm là 10,4%. Với 33% trẻ em dưới 8 5 tuổi bị SDD thể thấp còi (chỉ số chiều cao/tuổi thấp) phản ánh hậu quả của tình trạng thiếu ăn và sức khoẻ kém kéo dài [21], [26]. Thống kê của WHO, gần 13 triệu trẻ sơ sinh hàng năm bị SDD bào thai (cân nặng sơ sinh < 2500g).
Tỷ lệ SDD nhẹ cân ở các nước đang phát triển giảm từ 31% (năm 1990) xuống còn 26% (năm 2008) trên phạm vi toàn thế giới. Trẻ em nông thôn có nguy cơ SDD nhẹ cân cao hơn trẻ thành phố, trẻ con nhà nghèo có nguy cơ SDD nhiều hơn con nhà giàu [26] [33]. SDD thấp còi có mức độ trầm trọng hơn SDD thể nhẹ cân. Ở các nước đang phát triển, trẻ ở nông thôn có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao gấp 1,5 lần so với trẻ ở thành phố.
Chiều hướng giảm SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi cũng tương tự như với SDD nhẹ cân. SDD thấp còi của châu Phi là cao nhất (38,7% năm 2007), tiếp đến là châu Á (30,6% năm 2007) và châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê (14,8% năm 2007). Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang phát triển là 31,2 % (2007), toàn thế giới là 38,7% (1990), 29,7% (2005) và 28,5% (2007) [33]. Dự đoán đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấp còi trên toàn thế giới tiếp tục giảm.
Tỷ lệ thấp còi ở các nước đang phát triển sẽ giảm xuống còn khoảng 16,3% năm 2020 (29,8% năm 2000). Ở châu Phi mức độ giảm ít hơn từ 34,9% (năm 2000) xuống còn 31,1% ( năm 2020). Ở châu Á, châu Mỹ La Tinh và Caribê, tỷ lệ SDD thấp còi sẽ tiếp tục giảm đều đặn [26] [32]. Tình hình suy dinh dưỡng tại Việt Nam SDD vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam.
Theo kết quả điều tra về TTDD của trẻ em, tỉ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân ở Việt Nam tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới. Năm 2009 tỷ lệ SDD nhẹ cân là 19%, năm 2010 là 17,5%, tỷ lệ SDD thấp còi chung toàn quốc vẫn ở mức 30% năm 2009 và 29,3% năm 2010. Phân bố SDD theo khu vực: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng. Trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ SDD nông thôn cũng cao hơn ở thành thị.
Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên (24,7% với SDD nhẹ cân và 35,2% với SDD thấp còi). Ở vùng đông 9 Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp hơn so với các vùng khác (10,7% với SDD nhẹ cân và 19,2% với SDD thấp còi), thấp nhất trong các vùng sinh thái của cả nước. Riêng tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở vùng Tây Nguyên (35,2%), Trung du và miền núi phía Bắc (33,7%), thấp nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng (25,5%) và vùng đông Nam Bộ (19,2%) [55]. SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của người dân.
Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (17,9%) cao hơn vùng thành thị (14,1%) và vùng nghèo (27%) cao hơn so với vùng bình thường (14%). Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (28,9%) cao hơn vùng thành thị (19,1%) và vùng nghèo (35,7%) cao hơn so với vùng không nghèo (25,6%) [17]. Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ năm 2012 Toàn quốc và SDD nhẹ cân(%) SDD thấp còi (%) SDD gầy các khu vực N còm (%) Chung độ I độ II độ III Chung độ I độ II chung Toàn quốc 100735 16,2 14,5 1,6 0,1 26,7 15,5 11,2 6,7 đồng bằng 18949 11,8 11,0 0,7 0,1 21,9 13,6 8,3 5,5 Sông Hồng Trung du và miền núi phía 21467 20,9 18,7 2,0 0,2 31,9 20,4 11,5 7,4 Bắc Bắc Trung Bộ và duyên 21577 19,5 17,9 1,4 0,2 31,2 19,4 11,8 7,5 hải m. trung Toàn quốc và SDD nhẹ cân(%) SDD thấp còi (%) SDD gầ y các khu vực N còm (%) Chung độ I độ II độ III Chung độ I độ II chung Tây Nguyên 7764 25,0 21,5 3,0 0,5 36,8 23,0 13,8 8,1 đông Nam 10914 11,3 10,3 0,9 0,1 20,7 11,5 9,2 5,4 Bộ đB sông 19962 14,8 13,1 1,6 0,1 26,0 15,6 10,4 6,8 Cửu Long Số liệu giám sát dinh dưỡng năm 2012 của Viện Dinh dưỡng Phân bố SDD theo nhóm tuổi: Theo số liệu báo cáo của Viện Dinh dưỡng năm 2012, tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3 thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm), sau đó SDD tăng dần.
Thời kỳ trẻ 6-24 tháng, là thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao nhất. SDD thể nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tăng trong 11 năm thứ 2 và đạt tỷ lệ cao nhất lúc trẻ được 36 - 41 tháng tuổi. SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ tháng 6 đến 23 tháng và gần như đi ngang, thậm chí giảm đi vào 54-59 tháng tuổi [8] [17].