CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm về kinh tế tư nhân Thuật ngữ “kinh tế tư nhân” gắn liền với vấn đề sở hữu tư nhân. Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời của kinh tế tư nhân.
Sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất đó. Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về KTTN, mà có các cách hiểu khác nhau về KTTN: Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước thì đều được xem là khu vực KTTN. Ở Việt Nam cũng có những cách hiểu khác nhau về KTTN: - Trong nền kinh tế nhiều thành phần, KTTN là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Khu vực kinh tế quốc doanh là kinh tế nhà nước dựa trên sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. - KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Từ nhiều cách hiểu khác nhau về KTTN, có thể đưa ra khái niệm riêng về KTTN để phục vụ nghiên cứu của đề tài đó là: Khái niệm KTTN được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Các loại hình kinh tế tư nhân 1.
Công ty cổ phần -6- CTCP là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức của KTTN, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết. Lợi thế của CTCP là chế độ trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp; Khả năng hoạt động của CTCP rất rộng, trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề (trừ lĩnh vực kinh doanh có điều kiện); Mô hình tổ chức chặt chẽ ( Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát); Cơ cấu vốn của CTCP hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty; Khả năng huy động vốn của CTCP rất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của CTCP; Việc chuyển nhượng vốn trong CTCP là tương đối dễ dàng. Đối với những CTCP được niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tiết kiệm được chi phí quảng cáo, nhưng ngược lại cũng chịu áp lực lớn đối với nhà đầu tư về giá cổ phiếu trên thị trường, về công bố thông tin… Bên cạnh những lợi thế nêu trên, loại hình CTCP cũng có những hạn chế nhất định như: việc quản lý và điều hành CTCP rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích; Việc thành lập và quản lý CTCP cũng phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán. Công ty trách nhiệm hữu hạn - Cty TNHH có hai thành viên trở lên Cty TNHH có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
Thành viên của công ty có thể là tổ chức của KTTN, cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt quá năm mươi. -7- Cty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay, là mô hình doanh nghiệp có sự giao thoa giữa DNTN và CTCP. Cty TNHH có quan hệ đối nhân giữa người với người rất quan trọng, khả năng kiểm soát vốn của các thành viên cao vì luôn là thành viên của hội đồng thành viên. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức Cty TNHH đem lại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế, do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty; Số lượng thành viên của Cty TNHH không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, cùng chí hướng, tin cậy nhau nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp; Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạ vào công ty.
Tuy nhiên, hình thức Cty TNHH cũng có những hạn chế nhất định do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước các đối tác, bạn hàng cũng phần nào bị ảnh hưởng; Việc huy động vốn của Cty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu. - Công ty TNHH một thành viên Cty TNHH một thành viên là một hình thức đặc biệt của Cty TNHH. Cty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức của KTTN hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Cơ cấu tổ chức của Cty TNHH một thành viên phụ thuộc vào thành viên là tổ chức hay cá nhân.
Nếu thành viên là tổ chức, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty gồm: Hội đồng thành viên/Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc, Kiểm soát viên. Nếu thành viên là cá nhân, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc. Lợi thế của Cty TNHH một thành viên là chủ sở hữu công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty nên rất chủ động trong quản lý và điều hành. Tuy nhiên, Cty TNHH một thành viên cũng có những hạn chế như khó khăn trong huy động vốn vì không được phát hành cổ phiếu; chủ sở hữu không được rút bớt vốn kinh doanh, nếu rút bớt một phần vốn kinh doanh chủ sở -8- hữu vẫn liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và tài sản khác của công ty, còn nếu chuyển nhượng một phần vốn cho cá nhân hoặc tổ chức khác để rút bớt vốn kinh doanh thì phải đăng thay đổi thành Cty TNHH ít nhất từ 2 đến 50 thành viên.
Công ty hợp danh CTHD là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. CTHD có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn. Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, tiến hành các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty, cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại Điều lệ công ty, không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.
Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty. Ưu điểm của CTHD là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà CTHD dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành, quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
Hạn chế của CTHD là không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn và do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao. Doanh nghiệp tư nhân DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ sở hữu duy nhất của DNTN là một cá nhân. DNTN không có tư cách pháp nhân.
-9- Chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ DNTN có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
DNTN không có sự tách bạch giữa sở hữu và quản lý, do là chủ sở hữu duy nhất và là người trực tiếp quản lý doanh nghiệp nên DNTN hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ở DNTN không có sự phân biệt giữa tài sản của chủ doanh nghiệp và tài sản của doanh nghiệp mà nó tạo thành một khối thống nhất thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, tất cả khối tài sản này được sử dụng để chịu trách nhiệm cho hoạt động của doanh nghiệp.