Chương 1: Cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn; tập trung làm rõ các lý thuyết về vai trò của vốn tín dụng đối với phát triển nông nghiệp nông thôn; các chính sách đã và đang áp dụng cho nông nghiệp nông thôn; tóm lược kết quả chính của những nghiên cứu trước. Chương 2: Thực trạng địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; trình bày thực trạng địa bàn nghiên cứu và phương pháp cụ thể mà chuyên đề sử dụng. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; dựa trên thực trạng phương pháp nghiên cứu đã trình bày ở chương trước, chương này tác giả tiến hành phân tích làm rõ kết quả nghiên cứu và thảo luận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Chương này sẽ giới thiệu về cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn, tập trung làm rõ lý thuyết về vai trò của vốn tín dụng đối với phát triển nông nghiệp nông thôn; các chính sách đã và đang áp dụng cho nông nghiệp nông thôn; tóm lược kết quả nghiên cứu chính của những nghiên cứu trước.1 Cơ sở lý thuyết Zeller (1994), Về mặt lý thuyết, thị trường tín dụng chính thức bao gồm cung và cầu tín dụng.
Cầu tín dụng được xác lập dựa trên các đặc điểm của hộ, như là các đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế -xã hội; và cung tín dụng được định nghĩa là số tiền mà các nhà cung cấp quyết định cho vay dựa trên những thông tin sẵn có về nhu cầu vay. Các tổ chức tín dụng sẽ quyết định cấp toàn bộ hoặc giảm số tiền cho vay hoặc hoàn toàn bác bỏ yêu cầu xin vay. Frank Ellis (1998), Nông hộ là hộ nông dân có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất. Nói chung, đó là các gia đình sống bằng thu nhập từ nghề nông.
Ngoài ra, hộ còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất giữa các thành viên có cùng huyết thống, mà mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo cho sự tồn tại của hộ. Theo Phạm Hoài Bắc (2003), Tín dụng xuất phát từ chữ Credit trong tiếng Anh, có nghĩa là lòng tin, sự tin cậy, sự tín nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn.
Căn cứ theo chủ thể trong quan hệ tín dụng, các hình thức tín dụng chủ yếu bao gồm: tín dụng chính thức (tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng) và tín dụng phi chính thức (tín dụng tư nhân). Theo Trần Tiến Khai (2014), Chi phí giao dịch cao: Do khách hàng cư trú phân tán, cộng đồng nông dân đa dạng, giá trị vay nợ thấp, chi phí thông tin và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 marketing cao do cơ sở hạ tầng kém; Nhiều rủi ro: Do khí hậu thời tiết biến đổi, lợi nhuận từ nông nghiệp thấp, nhu cầu tiêu dùng của gia đình, tương đồng về điều kiện tự nhiên, giá cả hàng hóa nông sản biến động, xác suất mất khả năng chi trả cao, thế chấp kém, quyền sử dụng đất đai chưa toàn vẹn, hệ thống pháp lý yếu, khả năng thu hồi nợ kém; Hệ quả: Ngân hàng thương mại không muốn cho vay, vì ngân hàng thương mại luôn hướng tới hiệu quả nên chỉ tập trung vốn cho đô thị dẫn đến không công bằng làm thiếu hụt vốn ở vùng nông thôn cho nên nông thôn luôn phát triển kém, người cho vay tập trung vào nông trại quy mô lớn, bỏ qua nông trại nhỏ do nguy cơ chi phí giao dịch cao và không đảm bảo khả năng chi trả. Thị trường tín dụng phi chính thức phát triển, vì chi phí giao dịch thấp, quay vòng vốn nhanh, tính gần gũi, mặc dù lãi suất cao. Nếu thiếu vắng tín dụng chính thức thì cán cân vốn vẫn được cân bằng nhưng lãi suất tín dụng phi chính thức sẽ cao gánh nặng lãi suất sẽ gây áp lực về lợi nhuận cho nông hộ; Bất lợi: Vùng địa lý có giới hạn, khả năng đa dạng hóa danh mục bị giới hạn, lãi suất cao.
Thị trường tài chính nông thôn phải được chú trọng tái xây dựng dựa trên ba trục chính là: Tạo ra môi trƣờng chính sách: không tạo ra sự bóp méo thị trường, phải khuyến khích phát triển thị trường tài chính: (1) lãi suất tự quyết định, dựa trên chi phí, rủi ro và cạnh tranh, (2) khách hàng mục tiêu tự lựa chọn, (3) hoạt động độc lập và tránh các sự can thiệp. Xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính là vai trò của Nhà nƣớc: (1) hệ thống pháp lý và điều phối cần được cũng cố để giảm chi phí và thời gian ký hợp đồng, (2) xây dựng hệ thống thông tin chung như là hàng hóa công. Phát triển thể chế: (1) tăng cường tính tự chủ và hướng tới khách hàng, (2) tăng tính cạnh tranh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Trong khi đó, luồng ý kiến thứ hai có phần mềm dẻo hơn khi đánh giá vai trò của nhà nước đối với thị trường tài chính nông thôn.
Theo đó vai trò định hướng của nhà nước và hỗ trợ tài chính cho khu vực nông thôn vẫn hết sức quan trọng. Nếu các chương trình tín dụng nông thôn được thiết kế tốt thì vẫn có thể thành công và đem lại lợi ích. Các chương trình này nên tạo ra càng nhiều càng tốt các nhóm tự giúp đỡ và các tổ chức nhân dân mang tính tự nguyện nhằm giảm chi phí giao dịch và rủi ro khi cho vay. Tuy nhiên, nhà nước cũng cần phải tạo ra môi trường cạnh tranh cho thị trường tài chính nông thôn bằng cách xóa tính độc quyền tiếp cận nguồn vốn tài trợ của nhà nước, giảm bớt các ràng buộc về các mục tiêu trợ cấp và nới lỏng các quy định về lãi suất.
Các thể chế tài chính cũng cần phải chú trọng phát triển dựa trên nguồn vốn tiết kiệm huy động được, và nhà nước chỉ bổ sung bù đắp khoản thiếu hụt giữa vốn huy động và dư nợ. Xây dựng thể chế theo hướng tự chủ và hiệu quả cũng được khuyến cáo. Lý thuyết về thị trƣờng tín dụng nông thôn: Theo quan điểm truyền thống: Người cho vay độc quyền cho rằng người cho vay ở làng xã là độc quyền và cho vay nặng lãi. Thị trường hoàn hảo cho rằng thị trường tín dụng cạnh tranh hoàn hảo, lãi suất cao do rủi ro mất khả năng chi trả lớn và chi phí thông tin cao.
Mô hình thông tin không hoàn hảo: Một số lý thuyết nhấn mạnh vấn đề thông tin không hoàn hảo và thi hành không hoàn hảo. Hoạt động cho vay liên quan tới (1) đánh đổi giữa tiêu dùng hôm nay với tiêu dùng sau này, (2) bảo hiểm chống lại rủi ro mất vốn, (3) nhu cầu tiếp cận thông tin của khách hàng (thanh lọc), (4) các biện pháp bảo đảm khả năng chi trả (khuyến khích) và (5) thi hành các hàng động nâng cao khả năng chi trả. Ba quan sát về thị trường tín dụng nông thôn: (1) người vay có khả năng mất chi trả khác nhau, và tốn kém để biết rủi ro đơn lẻ của từng người là vấn đề thanh lọc; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 (2) rất tốn kém để đảm bảo người cho vay có các hoạt động bảo đảm trả nợ là vấn đề khuyến khích; (3) khó ép thúc việc chi trả là vấn đề thi hành. Lý thuyết cơ chế gián tiếp về thị trường tín dụng nông thôn: Nhấn mạnh sử dụng cơ chế thanh lọc gián tiếp, chủ yếu là lãi suất dẫn tới hạn chế tín dụng; tác động khuyến khích bằng cách đe dọa cắt tín dụng, điều kiện hợp đồng gắn với thị trường khác.
Lý thuyết cơ chế trực tiếp: Nhấn mạnh cơ chế trực tiếp để gia tăng nguồn lực cho thanh lọc người vay, giới hạn đối tượng vay; giải quyết vấn đề thông tin và thi hành nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến tình trạng cạnh tranh có độc quyền; giới hạn phạm vi cho vay cho các thành viên một nhóm đặc biệt về địa lý hay thân tộc, gắn kết với thị trường khác gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra; Các công cụ hạn chế vấn đề cân xứng thông tin và thi hành nghĩa vụ trả nợ là thế chấp, cầm cố tài sản người cho vay chiếm giữ và sử dụng đất của người vay đến khi được trả nợ, họ hụi và nhóm tín dụng.2 Các chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn - Chƣơng trình tín dụng hộ nghèo: là một bộ phận hợp thành của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo của Nhà nước nhằm tập trung nguồn lực tài chính của Nhà nước vào một đầu mối để cho người nghèo vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, cải thiện đời sống và từng bước tiếp cận với các điều kiện của kinh tế thị trường. - Chƣơng trình cho vay giải quyết việc làm: là nhằm tạo việc làm mới và tăng thêm việc làm cho người lao động; trợ giúp người thất nghiệp, người thiếu việc làm tự tạo việc làm, người sử dụng lao động có điều kiện bố trí việc làm để tránh cho nhiều người lao động không bị mất việc làm, tạo ra sản phẩm cho xã hội và có thu nhập phục vụ cho đời sống của người lao động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Chƣơng trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: là sử dụng nguồn lực của Nhà nước để cung cấp tín dụng ưu đãi cho học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn học tập trong thời gian theo học tại các trường chuyên nghiệp và dạy nghề. Thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người đều có điều kiện tiếp cận dịch vụ giáo dục chuyên nghiệp, góp phần vào sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho đất nước.
- Chƣơng trình cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn: là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nước huy động để cho các hộ gia đình (không phải là hộ nghèo) vay phát triển sản xuất, kinh doanh tại các xã thuộc vùng khó khăn, góp phần thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng trong cả nước. - Chƣơng trình cho vay nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn: Giúp các hộ gia đình ở khu vực nông thôn vay vốn để thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, nhằm nâng cao sức khỏe, cải thiện điều kiện sinh hoạt, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn.