Chương 1, Tổng quan về tiền kỹ thuật số của Ngân hàng trung ương. Chương 2, Thực trạng, kinh nghiệm triển khai tiền kỹ thuật số của một số ngân hàng trung ương trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam. Chương 3, Điều kiện phát hành CBDC và khuyến nghị cho Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ TIỀN KỸ THUẬT SỐ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.
Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Kiff và cộng sự (2020) định nghĩa CBDC là tiền tệ kỹ thuật số do ngân hàng trung ương phát hành được đảm bảo bằng niềm tin và uy tín của chính phủ. CBDC có thể được sử dụng như một phương tiện thanh toán, đơn vị tài khoản, kho lưu trữ giá trị. Bordo và Levin (2017) định nghĩa CBDC như một giá trị tiền tệ được lưu trữ dưới dạng ghi chú điện tử trong hệ thống sổ cái phân tán đại diện cho trách nhiệm pháp lý của NHTW.
Ozili (2021) định nghĩa CBDC là tiền pháp định do NHTW phát hành, được lưu trữ dưới dạng token trên blockchain hoặc công nghệ tương tự. Murakami và cộng sự (2022) đã nghiên cứu đến lợi ích CBDC đối với những người không có tài khoản ngân hàng: có thêm công cụ tiết kiệm để tiêu dùng và bộ đệm chống lại những biến động kinh tế vĩ mô. Engert và Fung (2017) cho rằng có một số động lực để ban hành CBDC, bao gồm nhu cầu tăng tính cạnh tranh của các phương thức thanh toán bán lẻ và để ngăn chặn hoạt động tội phạm, cũng như sự cần thiết phải ban hành CBDC như một biện pháp chống lại phản ứng đối với tiền điện tử tư nhân như Bitcoin (Ozili, 2021). Một số lợi ích phát hành CBDC như: là một phương tiện hiệu quả để trao đổi, là kho lưu trữ giá trị an toàn, là đơn vị tài khoản thay thế, CBDC có thể tăng cường chính sách tiền tệ, có các thuộc tính giống như tiền mặt, CBDC có thể cạnh tranh với tiền giấy, giảm chi phí sản xuất và quản lý tiền mặt trong kinh tế (Bordo và Levin, 2017; Itai Agur và cộng sự, 2022).
Một số nghiên cứu đã dự đoán mối quan hệ giữa CBDC và tài chính toàn diện. Ozili (2021) cho thấy rằng CBDC có thể thúc đẩy tài chính toàn diện bằng cách số hóa các chuỗi giá trị trong nền ninh tế, cải thiện khả năng tiếp cận kỹ thuật số dịch vụ tài chính, mở rộng nền kinh tế kỹ thuật số, nâng cao hiệu quả của thanh toán kỹ thuật số và giảm chi phí giao dịch. Còn Foster và cộng sự (2021) cho rằng CBDC có thể thúc đẩy nhanh tài chính toàn diện trong các nhóm dân cư bị loại trừ bằng cách cho phép mọi người tiếp cận CBDC với các đại lý Fintech phát hành để những người nghèo nhất có thể tránh được mức chi phí cao do ngân hàng và nhà cung cấp dịch vụ 5 di động tính phí. Didenko và Buckley (2021) lập luận rằng CBDC được thiết kế phù hợp với mỗi quốc gia, có thể đưa ra một giải pháp khả thi cho các vấn đề tài chính toàn diện ở khu vực Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, họ kêu gọi các cơ quan quản lý ở Thái Bình Dương khu vực dành nhiều thời gian hơn để nghiên cứu CBDC nhằm xây dựng kiến thức và chuyên môn cụ thể để ban hành CBDC được thiết kế đạt hiệu quả. Liên quan đến lợi ích ổn định tài chính và kinh tế vĩ mô của CBDC, Kim và Kwon (2019) đã chỉ ra tác động CBDC đến tài chính toàn diện bằng cách sử dụng mô hình cân bằng chung tiền tệ, họ chỉ ra rằng việc đưa tiền gửi vào tài khoản CBDC sẽ làm giảm nguồn cung tín dụng tư nhân của các NHTM, điều này sẽ làm tăng lãi suất danh nghĩa và giảm tỷ lệ dự trữ trên tiền gửi của các NHTM. Điều này có thể tác động tiêu cực đến sự ổn định tài chính, bằng cách tăng khả năng hoảng loạn ngân hàng trong đó các NHTM thiếu dự trữ tiền mặt để trả cho người gửi tiền. Với việc nâng cao mục tiêu và chức năng của NHTW, Cukierman (2019) cho rằng, để NHTW duy trì hiệu quả chính sách tiền tệ trong thế giới ngày càng bị ngập tràn bởi tiền kỹ thuật số tư nhân, NHTW sẽ phải phát hành các loại tiền kỹ thuật số của riêng họ.
Lee và cộng sự (2021) lập luận rằng các NHTW đang áp dụng CBDC có thể dựa trên công nghệ sổ cái phân tán hoặc cơ sở hạ tầng NHTW truyền thống, các quốc gia thông thạo với công nghệ DLT sẽ có lợi thế cạnh tranh trong phát triển CBDC. Sau khi thực hiện CBDC, sẽ phải liên tục xem xét các quy định hiện hành để hỗ trợ trung tâm CBDC và cập nhật chính sách CBDC bất cứ khi nào bối cảnh quốc tế thay đổi. Andolfatto (2021) cho thấy rằng giới thiệu CBDC có lãi suất có thể làm giảm nhu cầu về tiền mặt và có thể không làm gián đoạn ổn định tài chính ngân hàng, thay vào đó có thể mở rộng cơ sở người gửi tiền nếu sự cạnh tranh gia tăng buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất trên tiền gửi của khách hàng. Dawood Al Hosseini (2021), trong một nghiên cứu tình huống ở Canada, họ chỉ ra rằng nếu chi phí sử dụng CBDC không quá cao, các đại lý kinh tế sẽ thích sử dụng CBDC hơn tiền mặt.
Rennie và Steele (2021) phác thảo các lựa chọn liên quan thiết kế CBDC và hậu quả những lựa chọn này đối với quyền riêng tư. Họ lập luận rằng các NHTW có một số các ưu tiên, mà cuối cùng có thể làm suy yếu quyền riêng tư, chẳng hạn như 6 ngăn chặn tội phạm lạm dụng quyền hệ thống tài chính, mối quan tâm địa chính trị và đổi mới khu vực tư nhân. Các mô hình CBDC hiện tại có rủi ro về quyền riêng tư có thể biến thành các tổn thất như mất ẩn danh, mất tự do, mất kiểm soát cá nhân và mất kiểm soát theo quy định. David Chaum và cộng sự (2021) cho rằng CBDC bảo vệ quyền riêng tư phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và tuân thủ chống rửa tiền (AML) và chống tài trợ khủng bố (CFT) pháp luật.
Họ chỉ ra CBDC có thể đạt được đặc tính bảo mật giao dịch bằng tiền mặt, khi CBDC được triển khai trên các hệ thống dựa trên mã thông báo. Darbha và Arora (2020) phác thảo những gì khả thi về mặt công nghệ cho quyền riêng tư trong hệ thống CBDC, họ chỉ ra vấn đề chính là về loại thông tin cần giữ kín và tầm quan trọng của người giữ thông tin. Về bảo mật CBDC, Minwalla (2020) khám phá các khía cạnh bảo mật liên quan đến việc xây dựng và triển khai CBDC. Tác giả chỉ ra rằng (i) bảo mật phải thấm nhuần thiết kế CBDC từ khi bắt đầu cho tất cả các trường hợp sử dụng và vận hành bảo mật thông qua thử nghiệm liên tục, bảo vệ xác thực, tuân thủ các phương pháp tốt nhất và được kiểm tra, kiểm toán độc lập định kỳ các thành phần hệ thống quan trọng, (ii) các NHTW phải đảm bảo rằng các hệ thống công nghệ sổ cái phân tán (DLT) đang sử dụng để triển khai một CBDC có các biện pháp bảo vệ bổ sung, (iii) cần cung cấp dịch vụ chuyên dụng cho mục đích các thiết bị lưu trữ giá trị cục bộ, vì chúng mạnh mẽ chống lại các cuộc tấn công mạng hoặc gián đoạn phát sinh, điều này sẽ đảm bảo rằng giá trị được lưu trữ mang lại khả năng phục hồi cực cao và (iv) NHTW nên đưa ra các biện pháp kiểm soát và quy trình phù hợp để giảm thiểu nguy cơ bị tấn công quy mô lớn từ không gian mạng quốc tế.
Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam các nghiên cứu về CBDC dưới góc độ và phạm vi tiếp cận khác nhau. Năm 2021, Châu Văn Thành đã có bài nghiên cứu về vai trò và lợi ích tiềm năng, sự ra đời của CBDC có thể giúp cải thiện hệ thống tài chính, tuy nhiên chưa nên hình thành cho đến khi mà những bảo đảm phân bổ tín dụng, hệ thống thanh toán, các biện pháp bảo vệ an toàn ổn định tài chính mới phát huy chức năng vận hành tốt. Bài nghiên cứu của Phùng Trung Tập năm 2018 về những ưu điểm, hạn chế, thuộc tính của tiền điện tử và tiền ảo, hiện chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận và 7 không được phép giao dịch. Cũng có những khuyến nghị nên nghiên cứu, phát hành thử nghiệm CBDC để kiểm tra năng lực phù hợp với thực tế, chính sách và các quy định của pháp luật (Thế Việt, Xuân Hoàng, 2021).
Về thực trạng và các bài học rút kinh nghiệm cho Việt Nam đề cập đến những lợi ích, rủi ro khi nghiên cứu CBDC tại Việt Nam, và đưa ra những đề xuất với việc phát hành CBDC nhằm nâng cao hiệu quả, động lực cạnh tranh cho hệ thống tài chính Việt Nam (Thanh Thúy, Hải Anh, Minh Sáng, 2022). Một số nghiên cứu phân tích cơ hội của CBDC đối với hệ thống tài chính tiền tệ Việt Nam (Trung Anh, 2022). Tại hội thảo khoa học UEH năm 2021 về “Hệ thống tài chính toàn cầu và chiến lược của Việt Nam”, nghiên cứu tập trung vào tính năng CBDC, xem xét vai trò và các chức năng của tiền trong hoạt động thanh toán và thực thi chính sách tiền tệ của NHNN (Bích Trâm, Thùy Linh, 2021). Phương pháp nghiên cứu khảo lược, thực nghiệm và tổng hợp sự kiện thực tế, nghiên cứu đã chỉ ra rằng lợi ích kèm rủi ro của CBDC, cùng vấn đề phát sinh liên quan đến tiền giấy pháp định và tiền mã hóa lưu hành trong nền kinh tế, đưa ra một số lợi ích của CBDC (Thanh Phúc, Minh Trí, 2021).
Đề cập đến tác động của tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương đến tỷ giá, kết quả nghiên cứu cho rằng tiền kỹ thuật số có tác động đến tỷ giá hối đoái (Hoàng Nam, 2021). Khái niệm và đặc điểm 1. Các quan điểm về khái niệm CBDC Tiền kỹ thuật số của Ngân hàng Trung ương (Central Bank Digital Currency - CBDC) không hẳn là khái niệm xa lạ trong lĩnh vực công nghệ tài chính vì mệnh đề này đã từng được đề cập từ những năm cuối thế kỷ XX. Dựa trên đa dạng góc nhìn, rất nhiều định nghĩa khác nhau được đúc kết nhằm giải thích cho CBDC: * Bordo và Levin (2017) định nghĩa CBDC là "tiền tệ kỹ thuật số được phát hành bởi ngân hàng trung ương của một quốc gia", một giá trị tiền tệ được lưu trữ điện tử đại diện cho trách nhiệm pháp lý của NHTW, được sử dụng để thanh toán.