Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm 1.1 M ắt về phương diện quang học Mắt của chúng ta nhìn được một vật nào đó là do ánh sáng chiếu vào vật đó phát ra các tia phản xạ, các tia này xuyên qua không khí và các môi trường trong suốt của mắt để tới và tạo ảnh trên võng mạc. Các môi trường trongsuốt của mắt bao gồm:Giácmạc, thủydịch, thểthủy tinh, dịch kính. Các môi trường này có chiết suất khác nhau, bán kính cong của các bề mặt khúc xạ và khoảng cách giữa các bề mặt khúc xạ cũng khác nhau. Theo các định luật khúc xạ ánh sáng, các tia sáng có thể bị khúc xạ hoặc phản xạ một phần khi đi qua các môi trường này [25].
Đầu tiên tia sáng đi qua giác mạc là phần ngăn cách giữa không khí với các môi trường trong suốt của mắt. Giác mạc là một màng trong suốt chiếm 1/5 trước nhãn cầu, bán kính cong mặt trước giác mạc là 7,7mm, mặt sau là 6,8mm, chỉ số chiết suất của giác mạc là 1,376 cao hơn của không khí nên công suất khúc xạ của mặt trước là 48,83 D trong khi đó mặt sau chỉ có công suất khúc xạ là -5,88D. Tổng công suất khúc xạ của giác mạc là 43,05D[25]. Thể thủy tinh là một thấu kính hội tụ trong suốt có cấu trúc không đồng nhất, phần nhân có chỉ số khúc xạ cao hơn lớp vỏ, các lớp vỏ càng gần nhân thì bán kính cong càng cao, công suất khúc xạ của nhân thể thủy tinh là 5,985D.
Độ cong mặt sau thể thủy tinh cao hơn mặt trước với tổng công suất khúc xạ của hai mặt là 13,33D. Cấu trúc này đã làm giảm được các hiện tượng quang sai và tạo nên tổng công suất khúc xạ của thể thủy tinh là 19,11D. Thủy dịch và dịch kính có chỉ số chiết suất thấp 1.336 và gần tương đương với chiết suất của giác mạc (1,376) và thể thủy tinh(1,386) nên tia sáng thay đổi không đáng kể khi đi qua hai môi trường này[25]. Như vây công suất khúc xạ của mắt vào khoảng 58,64D, trong đó giác mạc chiếm 2/3 công suất của mắt.
Cấu tạo của mắt 1.2 Các tình trạng khúc xạ của mắt. M ắt chính thị: Mắt chính thịlà mắt có cấu trúc hài hòa giữa chiều dài trục nhãn cầu trước sau và công suất hội tụ của mắt. Ở trạng thái không điều tiết khi nhìn một vật ở vô cực các tia sáng song song từ vô cực sẽ hội tụ trên võng mạc, từ võng mạc các tín hiệu thần kinh được truyền lên não nhờ đó ta thấy được hình ảnh vật rõ nét. Viễn điểm của mắt chính thị nằm ở vô cực quang học (trên lâm sàng là khoảng cách 5m)[36].
Mắt chính thị 6 M ắt không chính thị: Mắt không chính thị là mắt có tật khúc xạ, do không có sự đồng bộ chiều dài trục nhãn cầu trước sau với công suất hội tụ của mắt. Khi đó các tia sáng đi vào sẽ không hội tụ trên võng mạc mà hội tụ ở trước võng mạc (đối với mắt bị cân thị) hoặc hội tụ ở sau võng mạc (đối với mắt bị viễn thị) do đó ảnh thu được sẽ không rõ, vật nhìn bị mờ. Mắt không chính thị có các loại: cân thị, viễn thị, loạn thị, lão thị[25]. Cân thị: Mắt cân thị là mắt có công suất khúc xạ quá cao so với chiều dài trục nhãn cầu nên các tia sáng song song từ vô cực sẽ hội tụ trước võng mạc tạo ra ảnh nhòe trên võng mạc, tương tự tia sáng suất phát từ một điểm trên võng mạc sẽ hội tụ vào một viễn điểm ở trước mắt.
Viễn điểm của cân thị là một viễn điểm thực, khoảng cách từ viễn điểm đen mắt phụ thuộc vào độ cân thị theo công thức: f = 100/F (tính bằng cm) trong đó F là độ cân thị [50]. Mắt cân thị có viễnđiểm và cân điểm gần hơn mắt chính thị nên người cân thị nhìn vật ở gần còn rõ, nhìn xa thì mờ. Mắt cận thị 7 Mắt viễn thị là mắt có công suất khúc xạ thấp hơn so với chiều dài trục nhãn cầu nên các tia sáng song song từ vô cực sẽ hội tụ sau võng mạc cũng tạo ra một ảnh nhòe trên võng mạc, tương tự tia sáng suất phát từ một điểm trên võng mạc sẽ phân kỳ khi ra khỏi mắt, như vây viễn điểm của mắt là một viễn điểm ảo ở sau nhãn cầu. Mắt viễn thị có viễn điểm ở sau nhãn cầu và cân điểm cũng xa hơn mắt chính thị nên người viễn thị nhìn vật ở gần cũng như ở xa đều mờ.
Mắt viễn thị luôn phải điều tiết để đưa ảnh về đúng trên võng mạc cả khi nhìn gần lẫn nhìn xa [42]. Mắt viễn thị Loạn thị: Mắt loạn thị là mắt có công suất khúc xạ không đều nhau ở các kinh tuyến do sự thay đổi độ cong của giác mạc hoặc thể thủy tinh ở các kinh tuyến này khác nhau làm cho các tia sáng song song từ vô cực không hội tụ ở một điểm duy nhất mà hội tụ theo hai tiêu tuyến, tiêu tuyến trước là của kinh tuyến có công suất khúc xạ mạnh hơn [51]. Mắt Loạn cận đơn 8 1.3 Các phương pháp chấn đoán tật khúc xạ. Các phương phá p chủ quan.
Thử thị lực: Thử thị lực để biết khả năng nhìn rõ của một người. Thử thị lực cho từng mắt, hai mắt, thử thị lực không kính và thị lực có kính. Sử dụng bảng thị lực chữ cái Snellen hoặc bảng thị lực vòng tròn hở Landolt để thử. Đây là hai loại bảng tốt, chính xác thường được sử dụng trên lâm sàng, bảng Landolt còn hay dùng cho nghiên cứu khoa học [6], [27].
Đối với trẻ em dùng bảng thị lực hình với các đồ vật, dụng cụ, con giống quen thuộc với trẻ để dễ nhân biết. Thử kính lỗ: Khi thị lực nhìn xa không kínhcủa bệnh nhân dưới 0,8 cần phải cho bệnh nhân thử kính lỗ. Thử kính lỗ là cách tốt nhất để xác định một người có thị lực kém do tật khúc xạ. Neu thị lực với kính lỗ tăng nhiều khả năng là do một tật khúc xạ, tuy nhiên với các tật khúc xạ cao thì thị lực qua kính lỗ ít tăng.
Neu thị lực với kính lỗ không tăng có thể do mắt bị nhược thị hoặc có bệnh lý tại mắt [45]. Đường kính của lỗ từ 1- 1,5mm, tốt nhất là 1,2mm. Có thể làm 1 hoặc nhiều lỗ trên 1 tấm chắn để thử [6]. Test 2 màu xanh - đỏ.
Dựa theo nguyên lý tán sắc, mắt cân thị nhìn chữ trên nền đỏ nổi rõ hơn, còn mắt viễn thị nhìn chữ trên nền xanh rõ hơn. Sử dụng test 2 màu xanh - đỏ để xác định nhanh bệnh nhân có tật khúc xạ là cân thị hay viễn thị và để kiểm tra lại số kính đã điều chỉnh là chỉnh quá kính cân hay chỉnh chưa đủ kính viễn. Đo khúc xạ chủ quan với kính cầu tối ưu. Kính cầu tối ưu là công suất kính cầu cộng tối đa (cao nhất) và công suất kính cầu trừ tối thiểu (thấp nhất) cho thị lực xa tốt nhất.
9 Kính cầu tối ưu được xác định bằng cách tăng công suất dương đến khi thị lực giảm đi hoặc giảm công suất âm đen khi thị lực ngừng tốt hơn, để xác định một công suất kính cầu cho phép nhìn xa rõ nhất và dễ chịu nhất [45]. Kính cầu không chỉnh được loạn thị nên khi chỉnh kính cầu tối ưu thị lực không đạt được tối đa, có thể sử dụng các các phương pháp [6]: Mặt đồng hồ Parent Kính khe Kính trụ chéo Jackson Là những dụng cụ có sẵn trên bảng thị lực và trong hộp kính để phát hiện nhanh bệnh nhân có kèm tật loạn thị hay không. Tuy nhiên trên thực te phần lớn bệnh nhân không có loạn thị cao vẫn có thị lực tốt nhất với kính cầu tối ưu. Cân bằng hai mắt và test +1 Khâu cuối cùng trong thử kính là cân bằng hai mắt để xác định chắc chắn rằng điều tiết của cả hai mắt đã giãn tương đương nhau khi thử kính cho 2 mắt, giúp bệnh nhân nhìn dễ chịu nhất.
Có thể làm mờ mắt bằng kính cộng hoặc sử dụng lăng kính để xác định cân bằng 2 mắt với thị lực sau chỉnh kính phải tương đương nhau giữa 2 mắt. Test +1 đượcsử dụng để kiểm tra lại xem mắt đã giãn điều tiết hết chưa khi thử kính bằng cách thêm kính +1diop vào kính nhìn xa tốt nhất nếu thị lực nhìn xa mờ hơn (giảm trên 2 dòng) tức là mắt đã giãn hết điều tiết, khúc xạ xác định đã chính xác [45]. Các phương pháp chủ quan đều đơn giản, dễ làm, chi phí thấp, có thể áp dụng mọi lúc mọi nơi, có độ tin cây cao ở người lớn và những trẻ em đã đi học. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không loại trừ hết điều tiết của mắt nhất là trong những trường hợp điều tiết quá mức gây giả cân thị.
Các phương phá p khách quan. Soi bóng đồng tử: Soi bóng đồng tử là phương pháp ra đời sớm nhất cho phép đánh giá một cách khách quan tật khúc xạ hình cầu, loạn thị đều hay không đều, vẩn đục của môi trường quang học. Dụng cụ dùng để soi cũng ngày một hoàn thiện, ngày nay thường 10 sử dụng máy Retinoscope. Trước khi soi phải làm giãn điều tiết bằng kính cộng hoặc bệnh nhân định thị vào một vật tiêu ở xa hoặc liệt điều tiết bằng thuốc như Atropin 0,5% hoặc Cyclogyl 1% [45], [30].
Soi bóng đồng tử là phương pháp đo khúc xạ rất chính xác, nhất là đối với trẻ em và người có khuyết tật về ngôn ngữ, thính giác, thần kinh là những đối tượng khó hợp tác nếu sử dụng các phương pháp chủ quan hay máy đo khúc xạ tự động. Phương pháp soi bóng đồng tử ngày càng được sử dụng rộng rãi vì đơn giản, dễ đo lại thực hiện được ở nhiều nơi và có giá trị chẩn đoán tốt [27]. Má y đo khúc xạ tự động: Máy đo khúc xạ tự động do sử dụng những tiến bộ mới của điện tử và vi tính, máy đo khúc xạ theo đường kinh tuyến rồi tự động tìm ra điểm trung hòa. Do sử dụng tia hồng ngoại nên bệnh nhân không bị chói mắt, giảm điều tiết nhưng bản thân máy cũng có thể cho kết quả sai lệch do phối hợp không tốt từ bệnh nhân hay đồng tử nhỏ dưới 2mm [16], [54].