Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, mối quan hệ giữa khách hàng và các ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng gắn kết chặt chẽ và tương tác đa chiều. Cùng với quá trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính và thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các NHTM Việt Nam đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh, hiện đại hóa công nghệ và đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ ngoài các dịch vụ tín dụng truyền thống.

Bảo lãnh ngân hàng là một phương thức cấp tín dụng phi tiền tệ hiện đại, xuất hiện từ giữa những năm 1960 tại thị trường nội địa Hoa Kỳ và được quốc tế hóa từ đầu thập niên 1970. Khác với các hình thức tín dụng cấp vốn trực tiếp như cho vay hay cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng là biện pháp bảo đảm mang tính phái sinh, trong đó tổ chức tín dụng dùng uy tín và năng lực tài chính của mình để bảo đảm nghĩa vụ cho khách hàng trước bên thứ ba. Mặc dù đóng vai trò là chất xúc tác quan trọng cho các hoạt động thương mại và xây dựng cơ bản, hoạt động dịch vụ bảo lãnh tại các NHTM Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều điểm yếu, rủi ro và bất cập về cơ chế thực hiện.

Đề tài được xây dựng nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng cung ứng dịch vụ bảo lãnh tại hệ thống NHTM Việt Nam, làm rõ các bất cập trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hoạt động bảo lãnh vay vốn nước ngoài và sự biến động doanh số bảo lãnh.
  3. Nhận diện các hạn chế, tìm ra nguyên nhân từ khung pháp lý, năng lực cán bộ, công nghệ và quản trị doanh nghiệp.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, các NHTM và cộng đồng doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả dịch vụ bảo lãnh.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động và dịch vụ bảo lãnh của các ngân hàng thương mại.
  • Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng dịch vụ bảo lãnh tại các NHTM Việt Nam, trọng tâm phân tích số liệu tăng trưởng doanh số bảo lãnh giai đoạn 2021 – 2023 tại một số ngân hàng tiêu biểu (Vietcombank, Techcombank, MB) và các quy định pháp luật hiện hành đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Đề tài dựa trên hệ thống lý luận ngân hàng thương mại hiện đại với ba chức năng trung gian cốt lõi:

  • Chức năng trung gian tài chính: Cầu nối giữa chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trong nền kinh tế, tạo cơ sở hình thành lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất và tạo tiền gửi.
  • Chức năng tạo phương tiện thanh toán: Tham gia tạo phương tiện thanh toán (M1) và mở rộng khối lượng tiền gửi thông qua cấp tín dụng toàn hệ thống dựa trên tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
  • Chức năng trung gian thanh toán: Thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa, dịch vụ qua séc, ủy nhiệm chi, thẻ, thư tín dụng (L/C) và mạng lưới thanh toán điện tử.

Về bản chất pháp lý, đề tài xác định bảo lãnh ngân hàng thiết lập cơ cấu gồm ba mối quan hệ độc lập nhưng gắn kết hữu cơ:

  1. Quan hệ hợp đồng gốc giữa bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) và bên có quyền (bên nhận bảo lãnh).
  2. Quan hệ hợp đồng cấp bảo lãnh (hoặc thỏa thuận cấp bảo lãnh) giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh.
  3. Quan hệ hợp đồng bảo lãnh (cam kết bảo lãnh) giữa ngân hàng bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.

Hệ thống phân loại bảo lãnh được tiếp cận theo ba tiêu thức:

  • Theo bản chất: Bảo lãnh đồng nghĩa vụ (nghĩa vụ bổ sung, chủ yếu dùng trong nội địa) và bảo lãnh độc lập (tách rời nghĩa vụ gốc, phổ biến trong thương mại quốc tế).
  • Theo phương thức phát hành: Bảo lãnh trực tiếp (ba bên) và bảo lãnh gián tiếp (có sự tham gia của ngân hàng trung gian phát hành bảo lãnh đối ứng).
  • Theo mục đích: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước và các loại hình bảo lãnh khác theo thông lệ.

Văn bản pháp quy được dẫn chiếu trong nghiên cứu bao gồm:

  • Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/06/2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng (thay thế Thông tư số 28/2012/TT-NHNN).
  • Quy chế bảo lãnh ngân hàng (đặc biệt là Điều 20 quy định về các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh).
  • Công ước của Liên hợp quốc về bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng (tham chiếu quốc tế).

Phương pháp nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh số liệu tăng trưởng và phương pháp phân tích thực tiễn hoạt động nghiệp vụ từ nguồn dữ liệu báo cáo tài chính của các NHTM.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về hoạt động bảo lãnh ngân hàng thương mại

Chương I trình bày lịch sử phát triển của NHTM bắt nguồn từ nghiệp vụ đổi tiền, đúc tiền của thợ vàng và sự ra đời của giấy nhận nợ làm phương tiện lưu thông thay thế tiền kim loại. Tác giả phân tích chi tiết danh mục 12 nhóm dịch vụ của NHTM bao gồm: mua bán ngoại tệ, nhận tiền gửi, cho vay, bảo quản vật có giá, cung cấp tài khoản giao dịch, quản lý ngân quỹ, tài trợ chính phủ, bảo lãnh, cho thuê thiết bị trung - dài hạn, ủy thác và tư vấn, môi giới chứng khoán, bảo hiểm và dịch vụ đại lý.

Nội dung trọng tâm của chương là chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ bảo lãnh qua 5 bước:

  • Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị bảo lãnh: Thu thập hồ sơ pháp lý, giấy đề nghị, báo cáo tài chính và hồ sơ tài sản bảo đảm.
  • Bước 2: Thẩm định hồ sơ và xét duyệt: Kiểm tra tư cách pháp lý, phương án kinh doanh, tính khả thi, giới hạn cấp tín dụng và quản lý ngoại hối.
  • Bước 3: Ký thỏa thuận cấp bảo lãnh và phát hành cam kết bảo lãnh: Thiết lập văn bản theo quy định của Thông tư 07/2015/TT-NHNN với đầy đủ thông tin về phạm vi nghĩa vụ, số tiền, đồng tiền, điều kiện thực hiện nghĩa vụ trả thay và chế tài bắt buộc nhận nợ.
  • Bước 4: Thanh toán phí bảo lãnh: Khách hàng nộp các khoản phí theo thỏa thuận.
  • Bước 5: Tất toán bảo lãnh: Chấm dứt nghĩa vụ khi khách hàng hoàn thành nghĩa vụ, ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ trả thay, hết thời hạn, hủy bỏ/thay thế biện pháp bảo đảm hoặc được miễn thực hiện nghĩa vụ theo Điều 20 Quy chế bảo lãnh.

Chương này cũng phân tích 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bảo lãnh: uy tín của ngân hàng, tài sản bảo đảm (ký quỹ, cầm cố giấy tờ có giá/động sản, thế chấp bất động sản), khung pháp lý đồng bộ và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ.

Chương II: Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại Việt Nam

Chương II đi sâu phân tích hoạt động bảo lãnh tại các ngân hàng lớn như Vietcombank, Vietinbank (Incombank), BIDV, Agribank và Techcombank. Tác giả nêu ví dụ điển hình về việc Agribank thực hiện bảo lãnh 3 triệu USD cho nhà máy sản xuất đường Quảng Nam, Đà Nẵng vay vốn từ Úc và tái bảo lãnh 3 triệu USD cho nhà máy sản xuất đường Kiên Giang, Biên Hòa.

Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng và rủi ro lớn trong lĩnh vực bảo lãnh xây dựng cơ bản:

  • Bảo lãnh dự thầu: Tỷ lệ bảo lãnh hiện hành thường áp dụng ở mức 1% giá trị gói thầu là quá thấp, dẫn đến tình trạng các nhà thầu chấp nhận mất phí để tham gia đấu thầu không lành mạnh, tạo cạnh tranh giả tạo hoặc đứng tên hộ để thông thầu.
  • Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Mức bảo lãnh hợp đồng áp dụng 5% giá trị trúng thầu tạo ra rủi ro chênh lệch tài chính nghiêm trọng khi chủ đầu tư tạm ứng tới 20% giá trị hợp đồng. Nếu nhà thầu chiếm dụng vốn tạm ứng rồi từ bỏ công trình, chủ đầu tư chịu rủi ro thiệt hại lên tới 15%.
  • Bảo lãnh chất lượng công trình (bảo hành): Mức bảo lãnh 5% – 10% giá trị công trình và thời hạn bảo hành cố định 1 năm là không thực tế đối với các công trình có quy mô và tuổi thọ lớn, bởi mức 5% – 10% chỉ đủ khắc phục hư hỏng nhỏ và 1 năm chưa đủ thời gian để phát hiện các hư hỏng kết cấu tiềm ẩn.

Tác giả tổng hợp tốc độ tăng trưởng doanh số bảo lãnh giai đoạn 2021 – 2023 tại ba ngân hàng qua bảng thống kê:

Ngân hàng Tăng trưởng năm 2021 Tăng trưởng năm 2022 Tăng trưởng năm 2023 Tăng trưởng bình quân
Vietcombank (VCB) -77% 220% 10% 51%
Techcombank (TCB) 42% 93% 25% 53%
MBBank (MB) 22% 15% 3% 13%

Nguồn: Tác giả tự tính toán dựa trên số liệu tổng hợp từ báo cáo của các NHTM

Chương II đồng thời chỉ ra các nguyên nhân hạn chế của dịch vụ bảo lãnh: hệ thống văn bản pháp quy dưới luật còn phân tán và chồng chéo; các doanh nghiệp nhà nước được bảo lãnh có tỷ lệ vốn tự có thấp, phụ thuộc vốn vay; năng lực đàm phán hợp đồng quốc tế của doanh nghiệp còn yếu khiến thiết bị nhập khẩu bị ép giá hoặc lạc hậu; vốn đối ứng cho xây dựng cơ bản giải ngân chậm; đội ngũ cán bộ ngân hàng thiếu kinh nghiệm thẩm định dự án và trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế.

Chương III: Giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh của NHTM

Chương III đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm:

  • Ứng dụng Marketing dịch vụ bảo lãnh: Triển khai nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược 4P: chính sách chăm sóc khách hàng truyền thống và khách hàng lớn; chiến lược đa dạng hóa sản phẩm (mở rộng bảo lãnh hải quan, bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu); chính sách giá phí linh hoạt và chiến lược khuếch trương uy tín ngân hàng.
  • Phát triển nguồn nhân lực: Kết hợp đào tạo chuyên sâu ngắn hạn và dài hạn trong và ngoài nước về pháp luật thương mại quốc tế, ngoại ngữ, tin học nghiệp vụ; tuyển dụng nhân sự trẻ chất lượng cao và phân cấp quản lý khoa học.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin: Nâng cấp hệ thống công nghệ phục vụ xử lý giao dịch nhanh chóng, chính xác và theo dõi thị trường tài chính kịp thời.
  • Cải tiến quy trình thẩm định: Chuẩn hóa thẩm định 5 yếu tố trọng yếu: tư cách pháp nhân, tình hình sản xuất kinh doanh, năng lực quản trị điều hành, năng lực tài chính - tài sản thế chấp và tính khả thi của phương án kinh doanh.
  • Quản lý rủi ro và mở rộng liên kết: Bố trí nhân sự quản lý rủi ro tác nghiệp chuyên trách, cập nhật dữ liệu vào hệ thống giám sát rủi ro; đẩy mạnh mô hình đồng bảo lãnh giữa các NHTM trong nước và liên kết với ngân hàng quốc tế làm ngân hàng xác nhận, ngân hàng thông báo.

Đồng thời, tác giả đưa ra các nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Kiến nghị với Chính phủ và cơ quan nhà nước: Ban hành Luật Bảo lãnh ngân hàng chuyên biệt; nghiên cứu phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng; hoàn thiện Luật về sở hữu tài sản và tài sản thế chấp, đơn giản hóa thủ tục công chứng; quản lý chặt chẽ điều kiện thành lập doanh nghiệp.
  2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Nâng giới hạn bảo lãnh lên mức 20% – 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng; quy định khung phí bảo lãnh chung chống cạnh tranh không lành mạnh; ban hành hướng dẫn chi tiết về xử lý vi phạm hợp đồng và phát mại tài sản; hướng dẫn quy trình bảo lãnh hải quan.
  3. Kiến nghị với bản thân NHTM: Phân cấp ủy quyền linh hoạt cho chi nhánh thực hiện bảo lãnh vay vốn nước ngoài; giảm mức phí bảo lãnh phù hợp; tài trợ kinh phí đào tạo và hiện đại hóa công nghệ; làm tốt vai trò đầu mối đồng bảo lãnh, tái bảo lãnh.
  4. Kiến nghị với doanh nghiệp: Cung cấp thông tin tài chính minh bạch, trung thực; nâng cao năng lực đàm phán thương mại quốc tế của cán bộ xuất nhập khẩu; chủ động tham vấn cán bộ ngân hàng trước khi ký kết hợp đồng; tuân thủ nghiêm túc các cam kết thanh toán.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực nghiệm: Khóa luận đã phân tích tốc độ tăng trưởng doanh số bảo lãnh giai đoạn 2021 – 2023, chỉ ra mức tăng trưởng bình quân cao của TCB (53%) và VCB (51%), đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh mẽ của VCB trong năm 2022 (tăng 220% sau mức giảm -77% năm 2021).
  • Phát hiện kẽ hở nghiệp vụ trong xây dựng cơ bản: Tác giả đã chỉ ra sự mất cân đối tài chính giữa mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng (5%) và mức tạm ứng vốn (20%), cũng như sự bất hợp lý của mức bảo lãnh dự thầu 1% và thời hạn bảo hành công trình 1 năm.
  • Đề xuất khung tỷ lệ bảo lãnh xây dựng mới:
    • Nâng mức bảo lãnh dự thầu từ 1% lên 10% nhằm loại bỏ nhà thầu ảo.
    • Điều chỉnh mức bảo lãnh thực hiện hợp đồng tương đương với tỷ lệ vốn tạm ứng của chủ đầu tư.
    • Phân nhóm thời hạn bảo hành công trình theo tính chất kỹ thuật: Nhóm A từ 5 – 7 năm, Nhóm B từ 3 – 5 năm, Nhóm C từ 1 – 3 năm.
  • Đóng góp về mặt pháp lý: Đề xuất sự cần thiết của việc xây dựng Luật Bảo lãnh ngân hàng và nội luật hóa các thông lệ quốc tế (Công ước Liên hợp quốc về bảo lãnh độc lập và thư tín dụng dự phòng).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thực nghiệm trong đề tài mới dừng lại ở phân tích tốc độ tăng trưởng doanh số của ba ngân hàng thương mại (VCB, TCB, MB) trong giai đoạn ngắn 2021 – 2023, chưa có điều kiện khảo sát số liệu chi tiết về tỷ lệ phát sinh nợ trả thay, số dư nợ bảo lãnh cụ thể theo từng ngành kinh tế và tỷ lệ thu phí thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang quy trình số hóa dịch vụ bảo lãnh điện tử (e-guarantee), phân tích định lượng rủi ro tín dụng phát sinh từ nghĩa vụ bảo lãnh ngoại bảng và đánh giá tác động chi tiết khi Việt Nam chính thức phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về bảo lãnh độc lập.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Luật Kinh tế làm đề tài nghiên cứu về nghiệp vụ cấp tín dụng phi tiền tệ, quản trị rủi ro thanh toán quốc tế và pháp luật ngân hàng.
  • Chuyên viên nghiệp vụ bảo lãnh, thẩm định tín dụng tại các NHTM trong việc rà soát quy trình thẩm định 5 bước và quản lý rủi ro đối với các hợp đồng bảo lãnh xây dựng cơ bản.
  • Các ban quản lý dự án, chủ đầu tư và nhà thầu xây dựng trong việc thiết lập điều khoản bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh tạm ứng và bảo hành công trình nhằm phòng ngừa rủi ro tranh chấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Bảo lãnh ngân hàng bao gồm những mối quan hệ hợp đồng nào theo phân tích của đề tài? Theo đề tài, bảo lãnh ngân hàng bao gồm ba mối quan hệ riêng biệt nhưng có liên hệ hữu cơ: (1) Quan hệ hợp đồng gốc giữa bên có nghĩa vụ và bên có quyền; (2) Quan hệ hợp đồng cấp bảo lãnh (thỏa thuận cấp bảo lãnh) giữa ngân hàng và bên được bảo lãnh; (3) Quan hệ hợp đồng bảo lãnh (cam kết bảo lãnh) giữa ngân hàng và bên nhận bảo lãnh.

2. Điểm bất cập lớn nhất giữa tỷ lệ bảo lãnh thực hiện hợp đồng và tiền tạm ứng trong xây dựng cơ bản là gì? Bất cập nằm ở chỗ ngân hàng chỉ phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng ở mức 5% giá trị trúng thầu, trong khi chủ đầu tư thường tạm ứng cho nhà thầu tới 20% giá trị hợp đồng sau khi ký kết. Nếu nhà thầu nhận 20% tiền ứng trước rồi bỏ dở công trình, chủ đầu tư sẽ đối mặt với nguy cơ thiệt hại 15% chênh lệch vốn.

3. Thông tư số 07/2015/TT-NHNN đã thay đổi thuật ngữ pháp lý nào so với Thông tư số 28/2012/TT-NHNN? Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/06/2015 đã thay thế thuật ngữ "hợp đồng cấp bảo lãnh" trong Thông tư số 28/2012/TT-NHNN thành "thỏa thuận cấp bảo lãnh" nhằm thể hiện rõ nét hơn nguyên tắc tự do ý chí giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.

4. Tác giả kiến nghị phân chia thời hạn bảo hành công trình xây dựng như thế nào? Tác giả kiến nghị phân loại thời hạn bảo hành dựa theo quy mô và kết cấu công trình: Nhóm A thời gian bảo hành từ 5 – 7 năm; Nhóm B thời gian bảo hành từ 3 – 5 năm; Nhóm C thời gian bảo hành từ 1 – 3 năm, thay vì áp dụng mức cào bằng 1 năm như thực tiễn.

5. Tác giả đề xuất Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giới hạn mức bảo lãnh ở mức bao nhiêu? Tác giả kiến nghị Ngân hàng Nhà nước nâng mức giới hạn bảo lãnh lên khoảng 20% – 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng để tạo điều kiện mở rộng quy mô phục vụ khách hàng.

Kết luận

Báo cáo thực hành chuyên ngành của tác giả Đào Thị Thu Hằng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Thông qua việc phân tích thực trạng tăng trưởng doanh số bảo lãnh giai đoạn 2021 – 2023 và chỉ rõ các rủi ro cụ thể trong lĩnh vực xây dựng cơ bản cũng như bảo lãnh vay vốn nước ngoài, công trình đã làm rõ các nguyên nhân cốt lõi làm hạn chế sự phát triển của nghiệp vụ này tại Việt Nam. Các giải pháp về chiến lược marketing, nâng cao chất lượng nhân lực, hoàn thiện quy trình thẩm định cùng hệ thống kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý (đặc biệt là đề xuất xây dựng Luật Bảo lãnh ngân hàng) có giá trị thực tiễn cao cho quá trình phát triển dịch vụ bảo lãnh tại các NHTM Việt Nam.