chương 1 tác giả đã đưa ra phạm vi, đối tượng cũng như phương pháp nghiên cứu về vấn đề CSTT Việt Nam trong thời gian. Tiếp theo đó, tác giả tổng quan về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam trong thời gian qua, từ đó cho thấy với tốc độ tăng trưởng tích cực, giá hàng hóa cơ bản và lạm phát các nước bắt đầu tăng, khiến cho các nước phát triển có xu hướng đưa ra mục tiêu thực hiện CSTT thận trọng và chặt chẽ hơn. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra các dấu hiệu cảnh báo, biểu hiện của vấn đề và xác định vấn đề cần nghiên cứu đến CSTT Việt Nam, cũng như gợi ý giải pháp thực hiện năm 2020. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3.1 Tổng quan về chính sách tiền tệ 3.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ Theo F.
Mishkin (2001), định nghĩa về CSTT “là một trong các chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá hối đoái”. Theo Điều 3, Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010, định nghĩa CSTT “là các quyết định về tiền tệ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”. Vũ Xuân Dũng (2012), định nghĩa về CSTT quốc gia “là tổng hòa những phương thức mà NHTW thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định”. Chúng ta hiểu rằng, CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các công cụ của CSTT để điều tiết và kiểm soát các điều kiện tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý.2 Một số loại chính sách tiền tệ - CSTT theo nghĩa rộng “là chính sách làm tăng lượng cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, do đó làm giảm lãi suất và mở rộng đầu tư, tiếp vốn cho các ngành để phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 triển sản xuất kinh doanh, làm tăng tổng cầu và giá trị sản lượng quốc gia.
Chính sách này thích hợp để chống suy thoái kinh tế và giảm thất nghiệp”. - CSTT theo nghĩa hẹp “là chính sách giảm mức tăng trưởng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Chính sách này được sử dụng khi tổng cầu cao, lạm phát đang đe dọa nền kinh tế”. - CSTT của NHTW “là tổng thể tất cả các biện pháp, công cụ mà NHTW sử dụng nhằm điều tiết khối lượng tiền tệ, tín dụng, ổn định tiền tệ, góp phần đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô”.
- CSTT quốc gia “là tổng thể các biện pháp của Nhà nước pháp quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, trên cơ sở đó không ngừng ổn định giá trị đồng tiền quốc gia”. Từ các loại CSTT trên cho thấy, việc lựa chọn CSTT theo xu hướng nào tùy thuộc vào thực trạng nền kinh tế và nhu cầu về tiền trong từng giai đoạn cụ thể. CSTT rất nhạy cảm và có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ ❖ Mục tiêu tăng trưởng kinh tế Do CSTT có thể ảnh hưởng đến của cải và chi tiêu của xã hội ở một quốc gia, nên CSTT có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, muốn kinh tế tăng trưởng, trước hết phải dựa trên sự ổn định kinh tế.
Vì thế, CSTT phải tạo ra những nền tảng cho ổn định kinh tế dựa trên ổn định tiền tệ trong nước, từ đó cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị thế của nền kinh tế trên thị trường quốc tế. ❖ Mục tiêu ổn định giá cả Mục tiêu ổn định giá cả “cho phép hệ thống tài chính hoạt động trơn tru, hiệu quả thực hiện chức năng dẫn vốn từ khu vực có nguồn vốn nhàn rỗi sang khu vực sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh”. Vì vậy, ổn định giá cả “là một mục tiêu quan trọng của CSTT trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại thường xuyên có lạm phát. Ổn định giá cả có tầm quan trọng trong định hướng ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô của các nền kinh tế”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 ❖ Ổn định giá trị đồng tiền quốc gia CSTT là chính sách tác động trực tiếp tới mức cung tiền tệ, do đó việc ổn định giá trị đồng tiền là hết sức quan trọng. Giá trị của đồng tiền quốc gia bất ổn dẫn đến người dân sẽ mất dần niềm tin vào đồng nội địa, các nhà đầu tư nước ngoài e ngại rót vốn vào đầu tư trong nước. Chính vì vậy, NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng giảm của giá trị tiền tệ phù hợp với tình hình kinh tế và các mục tiêu đặt ra ❖ Ổn định tỷ giá hối đoái Khi nền kinh tế hội nhập thì giao thương của một quốc gia với các nước khác là điều tất yếu, nhu cầu mua bán hàng hóa và đầu tư giữa các nước dẫn đến việc chuyển đổi tiền tệ giữa các nước với nhau. Khi biến động tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, sức cạnh tranh về giá cả của hàng hóa trong nước với hàng hóa nước ngoài.
Do đó, việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái ở mức hợp lý phản ánh cung cầu thực tế và bám sát với mục tiêu phát triển kinh tế trong những giai đoạn nhất định.4 Vai trò của chính sách tiền tệ CSTT có vai trò quan trọng trong việc điều tiết khối lượng tiền lưu thông trong toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia. Thông qua CSTT, NHTW có thể kiểm soát hệ thống tiền tệ để thông qua đó có thể kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Mặt khác, CSTT còn là công cụ để kiểm soát toàn bộ hệ thống các NHTM và TCTD. Như vậy, chúng ta đã hiểu vai trò vô cùng quan trọng của một quốc gia, cụ thể: - Việc CSTT mở rộng hay thu hẹp có “ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế quốc gia”.
Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên. - Việc tăng trưởng kinh tế là “mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của CSTT. Sự tăng trưởng kinh tế thông qua hai yếu tố: Lãi suất và số cầu tổng quát. Khối lượng tiền tệ tăng hay giảm đều có tác động mạnh đến lãi suất và số cầu tổng quát, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 từ đó tác động đến sự gia tăng đầu tư sản xuất và cuối cùng là tác động lên tổng sản lượng quốc gia, tức là tác động lên sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc gia đó”.
Vì vậy, CSTT phải nhằm vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế thông qua việc tăng hay giảm khối lượng tiền tệ thích hợp. - Ổn định giá cả có vai trò “ý nghĩa quan trọng trong kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô của một quốc gia”. - Ổn định lãi suất, vì những biến động của lãi suất làm cho nền kinh tế của một quốc gia bấp bênh và khó lập kế hoạch định hướng cho tương lai. - Việc ổn định thị trường tài chính là mục tiêu rất quan trọng trong công tác điều hành nền kinh tế của mỗi chính phủ, ổn định thị trường tài chính cũng được thúc đẩy bởi sự ổn định lãi suất, bởi vì biến động trong lãi suất có thể gây nên sự mất ổn định cho các tổ chức tài chính của một quốc gia.5 Một số công cụ chính sách tiền tệ ➢ Công cụ trực tiếp - Công cụ trực tiếp là “cách thức mà NHTW trực tiếp can thiệp vào mục tiêu giá cả thông qua các qui định để tác động đến các chỉ tiêu trên bảng cân đối của NHTM.
Các công cụ trực tiếp này thường được sử dụng trong điều kiện thị trường tiền tệ chưa phát triển, khả năng tác động thông qua thị trường của NHTW là còn hạn chế”. - Như vậy, công cụ trực tiếp là “các mệnh lệnh tác động trực tiếp vào khối lượng cung tiền và lãi suất. Với cơ chế thị trường ngày càng phát triển và hoàn thiện, thì các công cụ này hầu như không còn vai trò là công cụ CSTT nữa”. Một số công cụ trực tiếp từng đã được các NHTW sử dụng bao gồm: ▪ Công cụ kiểm soát lãi suất, NHTW qui định “lãi suất cho vay hoặc tiền gửi cụ thể, hoặc biên độ giao động, hoặc quy định trần trên, sàn dưới các mức lãi suất đối với các NHTM khi tiến hành huy động và cho vay đối với nền kinh tế”.
Công cụ này thường được NHTW lựa chọn khi “không thể kiểm soát lãi suất thị trường thông qua các phương tiện thị trường hoặc khi chọn lãi suất dài hạn là mục tiêu chính sách”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 ▪ Công cụ hạn mức tín dụng: NHTW qui định mức tăng trưởng tín dụng cho từng NHTM căn cứ vào qui mô hoạt động của từng ngân hàng. Công cụ này được áp dụng khi cơ chế truyền tải không chắc chắn. ➢ Công cụ gián tiếp - Công cụ gián tiếp là “cách thức tác động thông qua thị trường dưới điều kiện cung cầu về vốn, các công cụ này là nhằm vào bảng cân đối tiền tệ của NHTW.
Công cụ gián tiếp tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động của CSTT, ví dụ: như tổng dự trữ của các ngân hàng trung gian, lãi suất ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hoặc lãi suất tín phiếu kho bạc, thông qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các mục tiêu trung gian là khối lượng cung ứng tiền và lãi suất thị trường”.