Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở một số trường tiểu học của huyện hoa lư tỉnh ninh bình

Chuyên khảo giáo dục phân tích Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở một số trường tiểu học của huyện hoa lư tỉnh ninh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại học Hoa Lư

Chuyên ngành

Tiểu học - Mầm non

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

93
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1. Môi trường

1.1.2. Ô nhiễm môi trường

1.1.3. Bảo vệ môi trường

1.1.4. Giáo dục môi trường

1.2. GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.2.1. Vị trí, vai trò của GDMT đối với học sinh tiểu học

1.2.2. Mục tiêu của giáo dục môi trường trong trường Tiểu học

1.2.3. Các hình thức giáo dục môi trường trong trường Tiểu học

1.2.4. Giáo dục về môi trường

1.2.5. Giáo dục vì môi trường

1.2.6. Giáo dục trong môi trường

1.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

1.3.1. Những nhân tố chủ quan

1.3.2. Nội dung, chương trình và tài liệu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

1.3.3. Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

1.3.4. Hình thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

1.3.5. Đội ngũ giáo viên

1.3.6. Những nhân tố khách quan

1.3.7. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học

1.3.8. Nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

1.3.9. Điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC CỦA HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA

2.1.1. Đối tượng và địa điểm điều tra

2.1.2. Nội dung điều tra

2.2. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

2.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về môi trường và giáo dục môi trường

2.2.2. Thực trạng nhận thức của học sinh về môi trường và giáo dục môi trường

2.2.3. Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

2.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Tiểu Học

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường (GD Ý thức BVMT) là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, khi môi trường đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. GD Ý thức BVMT cần được tiến hành từ khi còn nhỏ, đặc biệt là ở bậc tiểu học, nhằm hình thành ý thức bảo vệ môi trường ở trẻ. Ý thức này nếu được hình thành từ nhỏ sẽ theo trẻ đi suốt cuộc đời, lâu dài hơn so với ý thức được hình thành khi đã là một người lớn. Tiểu học là bậc học cơ bản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt cho đất nước. Giáo dục BVMT giúp các em hiểu được tầm quan trọng của môi trường đồng thời hình thành thói quen, hành vi ứng xử văn minh, thân thiện với môi trường. Nếu ở cấp học này các em chưa hình thành được tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó có thể bù đắp được. Nội dung và cách thức BVMT trong trường Tiểu học mang tính quyết định đối với việc hình thành những phẩm chất đó.

1.1. Vai Trò Quan Trọng Của Giáo Dục Môi Trường Tiểu Học

Giáo dục môi trường (GDMT) đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nhân cách và ý thức trách nhiệm của học sinh tiểu học đối với môi trường xung quanh. Nó giúp các em nhận thức được sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và tự nhiên, cũng như hậu quả của các hành vi gây ô nhiễm, phá hoại môi trường. Qua đó, các em sẽ có động lực và kiến thức để tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường một cách tích cực và chủ động.

1.2. Mục Tiêu Của Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường

Mục tiêu chính của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường (GD Ý thức BVMT) là trang bị cho học sinh tiểu học những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để bảo vệ môi trường. Cụ thể, học sinh cần hiểu biết về các vấn đề môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm, hậu quả của ô nhiễm, và các biện pháp bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, các em cần được rèn luyện các kỹ năng như phân loại rác, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên hợp lý, và tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Quan trọng hơn, học sinh cần có thái độ tích cực, yêu thiên nhiên, có ý thức trách nhiệm đối với môi trường xung quanh.

II. Thách Thức Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Tại Ninh Bình

Mặc dù có nhiều nỗ lực, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường tại các trường tiểu học ở Ninh Bình vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong số đó là sự hạn chế về nguồn lực, bao gồm tài liệu giảng dạy, trang thiết bị hỗ trợ, và đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên sâu về môi trường. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận giáo viên, phụ huynh và học sinh về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường vẫn còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc các hoạt động giáo dục môi trường chưa được đầu tư đúng mức, và học sinh chưa thực sự được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết. "Hoa Lư là một huyện nằm ở trung tâm của tỉnh Ninh Bình...Hàng năm Hoa Lư đã thu hút lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước nhưng kéo theo đó là sự ảnh hưởng về môi trường đang diễn ra trầm trọng, nhất là khu vực xã Trường Yên, huyện Hoa Lư. Môi trường bị ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân nơi đây mà còn ảnh hưởng lớn đến lượng khách du lịch đến tham quan nơi này."

2.1. Thực Trạng Nhận Thức Về Môi Trường Của Học Sinh

Kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức của học sinh về các vấn đề môi trường còn nhiều hạn chế. Nhiều em chưa hiểu rõ về nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, tác động của ô nhiễm đến sức khỏe con người, và các biện pháp bảo vệ môi trường đơn giản. Điều này có thể là do nội dung giáo dục môi trường trong chương trình học còn khô khan, thiếu tính thực tế, và chưa thu hút được sự quan tâm của học sinh. Theo Lê Ngọc Hóa và Huỳnh Thị Hồng Loan, trước thực nghiệm cho thấy mặc dù đất, nước, động vật, thực vật và các nguồn năng lượng là những thành phần dễ nhận thấy của môi trường nhưng có nhiều học sinh vẫn nhận diện sai (22,7% đối với đất, 29,5% đối với nước và đến 52,3% đối với động vật).

2.2. Hạn Chế Trong Phương Pháp Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường

Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường hiện nay còn mang tính truyền thống, chủ yếu tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, ít chú trọng đến việc phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Các hoạt động thực hành, trải nghiệm thực tế còn ít được tổ chức, khiến học sinh khó hình thành được kỹ năng và thái độ cần thiết để bảo vệ môi trường. Giáo viên mong muốn được tiếp cận và áp dụng học tập dựa vào trải nghiệm vào dạy học, họ đã nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng và hiệu quả của GDMT dựa vào trải nghiệm. Song, do chưa được tiếp cận đầy đủ về học tập dựa vào trải nghiệm, chưa được đào tạo, tập huấn các nội dung có liên quan về học tập dựa vào trải nghiệm nhằm GDMT nên giáo viên chưa có những hiểu biết sâu sắc về hiệu quả của GDMT dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn học, đặc biệt là dạy học môn Khoa học [6].

2.3. Rào Cản Về Cơ Sở Vật Chất Và Nguồn Lực

Nhiều trường tiểu học còn thiếu cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc giáo dục môi trường, như phòng thí nghiệm, vườn trường, hoặc các mô hình trực quan. Nguồn tài liệu giảng dạy cũng còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của học sinh. Bên cạnh đó, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên về kiến thức và kỹ năng giáo dục môi trường còn chưa được quan tâm đúng mức. Theo tác giả Bùi Cách Tuyến: một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường là: thực hiện đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt chú trọng khâu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên về môi trường.

III. Giải Pháp Nâng Cao Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Tiểu Học

Để nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Cần đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục, tăng cường các hoạt động thực hành, trải nghiệm thực tế, và tạo môi trường học tập thân thiện, gần gũi với thiên nhiên. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức và năng lực của giáo viên, phụ huynh, và cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

3.1. Đổi Mới Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy

Nội dung giáo dục môi trường cần được cập nhật, bổ sung các kiến thức mới, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và thế giới. Phương pháp giảng dạy cần đa dạng, sáng tạo, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức và kỹ năng. Cần tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan, sinh động, và khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động tìm tòi, khám phá, và giải quyết vấn đề liên quan đến môi trường. Bên cạnh đó, việc lồng ghép kiến thức BVMT trong các bài giảng, giáo viên cần làm gương cho học sinh trong việc BVMT, khuyến khích học sinh tự giám sát việc BVMT của nhau, từ đó nhắc nhở, tuyên dương kịp thời các hành vi, hoạt động thân thiện với môi trường [18].

3.2. Tăng Cường Hoạt Động Trải Nghiệm Thực Tế

Các hoạt động trải nghiệm thực tế, như tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên, các nhà máy xử lý rác thải, hoặc tham gia vào các dự án trồng cây, dọn dẹp vệ sinh môi trường, sẽ giúp học sinh có cái nhìn trực quan, sinh động về các vấn đề môi trường, và từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của mình. Các cấp lãnh đạo, địa phương kịp thời cung cấp số liệu có liên quan khi cần thiết, tạo điều kiện cơ sở vật chất cho các trường thực hiện nội dung giảng dạy về BVMT; tổ chức các cuộc thi, khuyến khích động viên các trường có thành tích tốt trong việc tích hợp nội dung GDMT vào chương trình giảng dạy.

3.3. Xây Dựng Môi Trường Học Tập Xanh Sạch Đẹp

Việc xây dựng môi trường học tập xanh, sạch, đẹp không chỉ tạo không gian thoáng đãng, trong lành cho học sinh học tập, vui chơi, mà còn là một hình thức giáo dục trực quan, sinh động về bảo vệ môi trường. Cần khuyến khích các trường học trồng nhiều cây xanh, tạo vườn trường, và tổ chức các hoạt động vệ sinh trường lớp thường xuyên. Nhà trường cũng cần ban hành những quy định cụ thể về việc bảo vệ cảnh quan môi trường lớp học, nhà trường, đường phố, nơi cư trú… đưa ý thức BVMT thành một tiêu chí để đánh giá, xếp loại giáo viên, học sinh, sinh viên.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Giáo Dục Môi Trường Tại Trường Hoa Lư

Việc ứng dụng các giải pháp nâng cao giáo dục ý thức bảo vệ môi trường tại trường tiểu học Hoa Lư cần được thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và địa phương. Cần xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, và thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả thực hiện. Đồng thời, cần huy động sự tham gia của toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh, và cộng đồng vào quá trình này.

4.1. Tích Hợp Nội Dung Môi Trường Vào Các Môn Học

Giáo viên cần chủ động tìm hiểu, lựa chọn các nội dung phù hợp trong chương trình học để tích hợp kiến thức về môi trường, tạo sự liên kết giữa các môn học, và giúp học sinh hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong cuộc sống hàng ngày. Cần lập bảng chọn lọc những nội dung có thể khai thác từ sách giáo khoa của các môn học để tích hợp GDMT cho học sinh. Theo đó, xây dựng nội dung tích hợp, mức độ tích hợp, hình thức tích hợp, phương pháp được sử dụng trong giờ lên lớp phù hợp trình độ học sinh, tình hình thực tế của trường học và địa phương trên cơ sở thiết kế bài học có tính mềm dẻo, thích ứng với nhiều tình huống khác nhau.

4.2. Tổ Chức Các Hoạt Động Ngoại Khóa Về Môi Trường

Nhà trường cần tổ chức thường xuyên các hoạt động ngoại khóa về môi trường, như các buổi nói chuyện, hội thảo, cuộc thi, hoặc các chuyến đi thực tế, để giúp học sinh nâng cao kiến thức, kỹ năng, và thái độ về bảo vệ môi trường. Các hoạt động này cần được thiết kế hấp dẫn, sinh động, và phù hợp với lứa tuổi của học sinh. Cùng với việc lồng ghép kiến thức BVMT trong các bài giảng, giáo viên cần làm gương cho học sinh trong việc BVMT, khuyến khích học sinh tự giám sát việc BVMT của nhau, từ đó nhắc nhở, tuyên dương kịp thời các 4 hành vi, hoạt động thân thiện với môi trường.

4.3. Phát Huy Vai Trò Của Học Sinh Trong Bảo Vệ Môi Trường

Cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, như phân loại rác, tiết kiệm điện nước, chăm sóc cây xanh, hoặc tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho gia đình và cộng đồng. Học sinh cần được khuyến khích đưa ra các sáng kiến, giải pháp, và tham gia vào quá trình ra quyết định liên quan đến các vấn đề môi trường của nhà trường và địa phương.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Tiểu Học

Việc đánh giá hiệu quả của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cần được thực hiện một cách thường xuyên, khách quan, và toàn diện. Cần sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau, như quan sát, phỏng vấn, kiểm tra viết, hoặc đánh giá sản phẩm hoạt động của học sinh. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy, và các hoạt động giáo dục môi trường, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục.

5.1. Tiêu Chí Đánh Giá Nhận Thức Về Môi Trường

Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh về các khái niệm cơ bản về môi trường, các vấn đề môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm, và các biện pháp bảo vệ môi trường. Kiểm tra khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế, ví dụ như phân loại rác, tiết kiệm điện nước, hoặc lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường.

5.2. Tiêu Chí Đánh Giá Thái Độ Và Hành Vi

Đánh giá thái độ của học sinh đối với môi trường, ví dụ như yêu thiên nhiên, quan tâm đến các vấn đề môi trường, và có ý thức trách nhiệm đối với môi trường. Quan sát hành vi của học sinh trong các hoạt động thực tế, ví dụ như tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, và có thói quen sống thân thiện với môi trường.

VI. Triển Vọng Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Ninh Bình Tương Lai

Với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực của các nhà trường, và sự tham gia của toàn xã hội, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường tại các trường tiểu học ở Ninh Bình hứa hẹn sẽ có những bước phát triển vượt bậc trong tương lai. Các em học sinh sẽ trở thành những công dân có ý thức, có trách nhiệm, và có khả năng góp phần vào sự nghiệp bảo vệ môi trường, xây dựng một xã hội xanh, sạch, đẹp, và phát triển bền vững.

6.1. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Bên Liên Quan

Nhà trường cần tăng cường hợp tác với các tổ chức môi trường, các doanh nghiệp, và cộng đồng để tạo ra các chương trình giáo dục môi trường đa dạng, phong phú, và phù hợp với điều kiện thực tế. Cần huy động nguồn lực từ các bên liên quan để đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị, và tài liệu giảng dạy về môi trường.

6.2. Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Vào Giáo Dục Môi Trường

Sử dụng các phần mềm, ứng dụng, hoặc trò chơi điện tử để tạo ra các bài học về môi trường hấp dẫn, sinh động, và tương tác. Khai thác các nguồn tài nguyên trực tuyến, như video, hình ảnh, hoặc bài viết, để giúp học sinh tiếp cận với các kiến thức mới về môi trường một cách dễ dàng và hiệu quả.

24/04/2025
Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở một số trường tiểu học của huyện hoa lư tỉnh ninh bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Môi trường Thuật ngữ môi trường đã có từ rất lâu và ngày nay trở thành một từ phổ biến. Khái niệm về môi trường được hình thành và phát triển tùy theo sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa xã hội, của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia… và trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau.

Triết học cổ phương đông coi con người là một vũ trụ nhỏ hoạt động trong một vũ trụ lớn là thiên nhiên bên ngoài (khái niệm này mang đậm nét tư duy hệ thống và đã nói lên được con người với môi trường xung quanh có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, con người chịu ảnh hưởng của môi trường). Sau hội nghị thế giới ở Stockholm về môi trường và con người (5/6/1972) đã có nhiều định nghĩa về môi trường ra đời. Theo cuốn Môi trường và con người của Mai Đình Yên (1997): “Môi trường là một khái niệm gắn liền với sự sống, bao gồm những thực thể và hiện tượng của tự nhiên, bảo đảm cho sự phát sinh và phát triển của sự sống. Nói cách khác môi trường là toàn bộ các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống sinh vật” [15].

Ngân hàng thế giới (1980): “Môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể, hoặc một cộng đồng. Những nhân tố này bao gồm cả biện pháp quản lí hợp lí việc sử dụng và duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài người hiện nay và trong tương lai” [14]. Trong cuốn Cơ sở sinh thái học (2008), Vũ Trung Tạng có viết: “ Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài … có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình” [10]. 9 Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.

Theo các tác giả Trần Kiên, Mai Sỹ Tuấn (2007), “Môi trường là nơi sinh sống của sinh vật, bao gồm các nhân tố ở xung quanh sinh vật, có tác động trực tiếp, gián tiếp hoặc tác động qua lại tới sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và những hoạt động của sinh vật” [8]. Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận (2000), “Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật” [6]. Theo tác giả, môi trường có 4 loại chính tác động qua lại lẫn nhau:  Môi trường tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, ánh sáng và các sinh vật  Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người  Môi trường không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường  Môi trường văn hóa xã hội bao gồm các cá nhân và các nhóm, công nghệ, tôn giáo, các định chế, kinh tế học, thẩm mỹ học, dân số học và các hoạt động khác của con người Đối với con người thì môi trường sống có nội dung rộng hơn. Theo định nghĩa của UNESCO thì “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (các hệ sinh thái, các môi trường văn hóa…) trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác những tài nguyên tự nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” [12].

Với sinh vật nói chung và con người nói riêng, môi trường sống có các chức năng chủ yếu sau: Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật; Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người; Môi trường là nơi chứa đựng các 10 chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất; Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Ô nhiễm môi trường Môi trường đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm. Nằm trong khung cảnh chung của thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á Thái Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấp, cục bộ có nơi bị hủy hoại nghiêm trọng gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước. Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế một cách vượt trội, kéo theo đó là sự ảnh hưởng, tác động trực tiếp tới môi trường sống của chúng ta.

Chất lượng môi trường có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với sự sống, sự phát triển bền vững của con người. Nhìn vào thực tế chúng ta cũng thấy tình trạng ô nhiễm môi trường như ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm bầu không khí, ô nhiễm đất hay sự khai thác cạn kiệt tài nguyên, cháy rừng, Trái Đất nóng lên khiến băng tan, nước biển dâng cao…đang đe dọa trực tiếp tới đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và sự tồn tại phát triển của con người. Vì vậy, đây được coi là một vấn đề nghiêm trọng đang được cả thế giới, các tổ chức lớn lên tiếng báo động về mức độ nguy hiểm của nó. Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, phạm vi tiêu chuẩn môi trường.

Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại. Thông thường tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định làm căn cứ để quản lý môi trường. Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của những hoạt động tự nhiên, như hoạt động núi lửa, thiên tai lũ, lụt, bão… hoặc những hoạt động của con người trong công nghiệp, giao thông, sinh hoạt. Bảo vệ môi trường Xã hội ngày càng phát triển, khả năng nhận thức của con người cũng ngày càng được nâng cao.

Chính vì thế mà con người đã nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống: môi trường không chỉ cung cấp nguồn nguyên - nhiên liệu đầu vào cho sản xuất, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt 11 sống của con người hàng ngày mà môi trường còn là nơi hấp thụ tất cả các chất thải sản xuất, sinh hoạt của con người. BVMT chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Do đó chúng ta cần phải biết sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các nguồn tài nguyên không tái tạo, không xả, thải các chất độc hại chưa qua xử lý ra ngoài môi trường, không vứt rác thải bừa bãi… BVMT là các hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dung hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý BVMT trong cả nước, có chính sách đầu tư, BVMT, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về BVMT.

Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: “BVMT là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm BVMT, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BVMT” [24]. Giáo dục môi trường Một trong những nguyên nhân chính gây nên môi trường bị hủy hoại, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là do nhận thức của con người đối với môi trường còn hạn chế. Từ đó một vấn đề đặt ra là: cần thiết phải tăng cường giáo dục BVMT.

Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của GDMT: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới. Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ. Do đó, GDMT là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường” [20]. 12 Có nhiều tài liệu khác nhau đề cập đến sự ra đời thuật ngữ Giáo dục môi trường - Enviromental education.

Theo các tác giả như Abe (1980), Kirk (1980) thì thuật ngữ “Giáo dục môi trường” lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới vào năm 1948. Trong luật GDMT của Mĩ (1970) GDMT được định nghĩa như sau: “GDMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật, phát triển đô thị và nông thôn…có ảnh hưởng đến môi trường và con người như thế nào” [13]. Hội nghị quốc tế về GDMT của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “GDMTcó mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [20].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực Trạng Giáo Dục Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Tại Trường Tiểu Học Hoa Lư, Ninh Bình" tập trung phân tích bức tranh thực tế về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tại một trường tiểu học cụ thể. Bài viết sẽ cung cấp cái nhìn chi tiết về các phương pháp, hoạt động đang được triển khai, đồng thời chỉ ra những điểm mạnh và hạn chế trong quá trình giáo dục này. Đọc giả sẽ có được thông tin hữu ích để đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục môi trường hiện tại, cũng như tìm kiếm giải pháp để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học.

Nếu bạn quan tâm đến việc tìm hiểu sâu hơn về các phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 5 thông qua dạy học phân môn địa lí để khám phá cách tích hợp giáo dục môi trường vào môn Địa lý một cách hiệu quả. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về cách đánh giá hiệu quả công tác giảng dạy của giáo viên tiểu học, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản lý đánh giá giáo viên các trường tiểu học huyện giồng trôm tỉnh bến tre theo chuẩn nghề nghiệp.