Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Môi trường Thuật ngữ môi trường đã có từ rất lâu và ngày nay trở thành một từ phổ biến. Khái niệm về môi trường được hình thành và phát triển tùy theo sự phát triển của nền kinh tế, văn hóa xã hội, của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia… và trong từng thời kỳ lịch sử khác nhau.
Triết học cổ phương đông coi con người là một vũ trụ nhỏ hoạt động trong một vũ trụ lớn là thiên nhiên bên ngoài (khái niệm này mang đậm nét tư duy hệ thống và đã nói lên được con người với môi trường xung quanh có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau, con người chịu ảnh hưởng của môi trường). Sau hội nghị thế giới ở Stockholm về môi trường và con người (5/6/1972) đã có nhiều định nghĩa về môi trường ra đời. Theo cuốn Môi trường và con người của Mai Đình Yên (1997): “Môi trường là một khái niệm gắn liền với sự sống, bao gồm những thực thể và hiện tượng của tự nhiên, bảo đảm cho sự phát sinh và phát triển của sự sống. Nói cách khác môi trường là toàn bộ các điều kiện tự nhiên tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống sinh vật” [15].
Ngân hàng thế giới (1980): “Môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế, xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể, hoặc một cộng đồng. Những nhân tố này bao gồm cả biện pháp quản lí hợp lí việc sử dụng và duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của loài người hiện nay và trong tương lai” [14]. Trong cuốn Cơ sở sinh thái học (2008), Vũ Trung Tạng có viết: “ Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài … có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình” [10]. 9 Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Theo các tác giả Trần Kiên, Mai Sỹ Tuấn (2007), “Môi trường là nơi sinh sống của sinh vật, bao gồm các nhân tố ở xung quanh sinh vật, có tác động trực tiếp, gián tiếp hoặc tác động qua lại tới sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển và những hoạt động của sinh vật” [8]. Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận (2000), “Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật” [6]. Theo tác giả, môi trường có 4 loại chính tác động qua lại lẫn nhau: Môi trường tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, ánh sáng và các sinh vật Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người Môi trường không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường Môi trường văn hóa xã hội bao gồm các cá nhân và các nhóm, công nghệ, tôn giáo, các định chế, kinh tế học, thẩm mỹ học, dân số học và các hoạt động khác của con người Đối với con người thì môi trường sống có nội dung rộng hơn. Theo định nghĩa của UNESCO thì “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra (các hệ sinh thái, các môi trường văn hóa…) trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác những tài nguyên tự nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” [12].
Với sinh vật nói chung và con người nói riêng, môi trường sống có các chức năng chủ yếu sau: Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật; Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người; Môi trường là nơi chứa đựng các 10 chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất; Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Ô nhiễm môi trường Môi trường đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm. Nằm trong khung cảnh chung của thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á Thái Bình Dương, môi trường Việt Nam đang xuống cấp, cục bộ có nơi bị hủy hoại nghiêm trọng gây nên nguy cơ mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước. Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế một cách vượt trội, kéo theo đó là sự ảnh hưởng, tác động trực tiếp tới môi trường sống của chúng ta.
Chất lượng môi trường có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với sự sống, sự phát triển bền vững của con người. Nhìn vào thực tế chúng ta cũng thấy tình trạng ô nhiễm môi trường như ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm bầu không khí, ô nhiễm đất hay sự khai thác cạn kiệt tài nguyên, cháy rừng, Trái Đất nóng lên khiến băng tan, nước biển dâng cao…đang đe dọa trực tiếp tới đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và sự tồn tại phát triển của con người. Vì vậy, đây được coi là một vấn đề nghiêm trọng đang được cả thế giới, các tổ chức lớn lên tiếng báo động về mức độ nguy hiểm của nó. Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, phạm vi tiêu chuẩn môi trường.
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại. Thông thường tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định làm căn cứ để quản lý môi trường. Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của những hoạt động tự nhiên, như hoạt động núi lửa, thiên tai lũ, lụt, bão… hoặc những hoạt động của con người trong công nghiệp, giao thông, sinh hoạt. Bảo vệ môi trường Xã hội ngày càng phát triển, khả năng nhận thức của con người cũng ngày càng được nâng cao.
Chính vì thế mà con người đã nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống: môi trường không chỉ cung cấp nguồn nguyên - nhiên liệu đầu vào cho sản xuất, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt 11 sống của con người hàng ngày mà môi trường còn là nơi hấp thụ tất cả các chất thải sản xuất, sinh hoạt của con người. BVMT chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Do đó chúng ta cần phải biết sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các nguồn tài nguyên không tái tạo, không xả, thải các chất độc hại chưa qua xử lý ra ngoài môi trường, không vứt rác thải bừa bãi… BVMT là các hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dung hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý BVMT trong cả nước, có chính sách đầu tư, BVMT, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về BVMT.
Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: “BVMT là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm BVMT, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về BVMT” [24]. Giáo dục môi trường Một trong những nguyên nhân chính gây nên môi trường bị hủy hoại, mất cân bằng sinh thái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là do nhận thức của con người đối với môi trường còn hạn chế. Từ đó một vấn đề đặt ra là: cần thiết phải tăng cường giáo dục BVMT.
Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của GDMT: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới. Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ. Do đó, GDMT là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường” [20]. 12 Có nhiều tài liệu khác nhau đề cập đến sự ra đời thuật ngữ Giáo dục môi trường - Enviromental education.
Theo các tác giả như Abe (1980), Kirk (1980) thì thuật ngữ “Giáo dục môi trường” lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới vào năm 1948. Trong luật GDMT của Mĩ (1970) GDMT được định nghĩa như sau: “GDMT là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kĩ thuật, phát triển đô thị và nông thôn…có ảnh hưởng đến môi trường và con người như thế nào” [13]. Hội nghị quốc tế về GDMT của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “GDMTcó mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [20].