Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp với các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai bất thường, suy thoái tài nguyên đất, nước và suy giảm diện tích rừng tự nhiên. Trước thực trạng đó, công tác giáo dục môi trường (GDMT) được xác định là giải pháp căn bản nhằm nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và xây dựng thói quen bảo vệ môi trường (BVMT) cho thế hệ trẻ ngay từ bậc học ban đầu. Bậc Tiểu học giữ vị trí nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân; việc trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng ứng xử văn minh với môi trường ở giai đoạn này có ảnh hưởng sâu sắc, bền vững đến sự phát triển nhân cách của học sinh trong tương lai.

Huyện Hoa Lư là địa bàn nằm ở trung tâm tỉnh Ninh Bình, tiếp giáp thành phố Ninh Bình và thành phố Tam Điệp. Với hệ thống danh lam thắng cảnh và quần thể di tích lịch sử văn hóa phong phú, huyện Hoa Lư phát triển mạnh về ngành du lịch, thu hút lượng lớn khách tham quan trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hoạt động du lịch phát triển nhanh cùng với mật độ dân cư gia tăng đã tạo ra áp lực lớn đối với cảnh quan và môi trường sinh thái, đặc biệt tại các khu vực trọng điểm như xã Trường Yên. Toàn huyện hiện có 10 xã và 1 thị trấn, tương ứng với 11 trường tiểu học. Việc tìm hiểu thực trạng giáo dục ý thức BVMT tại các trường tiểu học trên địa bàn là yêu cầu cấp thiết nhằm phục vụ công tác quản lý và nâng cao hiệu quả giảng dạy thực tế.

Khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Trần Thị Phương (chuyên ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hoa Lư) được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và xác định phạm vi cụ thể như sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giáo dục ý thức BVMT cho học sinh trong một số trường tiểu học ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức BVMT cho học sinh tiểu học.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khái quát những vấn đề lí luận về giáo dục ý thức BVMT cho học sinh tiểu học.
    2. Khảo sát, điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục ý thức BVMT cho học sinh ở một số trường Tiểu học của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
    3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức BVMT cho học sinh ở một số trường Tiểu học của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục ý thức BVMT cho học sinh tiểu học.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi nội dung: Thực trạng giáo dục ý thức BVMT của học sinh tiểu học.
    • Phạm vi thời gian: Từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020.
    • Phạm vi không gian: 3 trường tiểu học tại huyện Hoa Lư, gồm Trường Tiểu học Trường Yên, Trường Tiểu học Ninh An và Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên việc kế thừa các quan điểm học thuật, khung pháp lý và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về môi trường và giáo dục môi trường:

  • Khung khái niệm và cơ sở pháp lý:
    • Khái niệm môi trường được tiếp cận qua các góc độ sinh thái học và luật pháp: Mai Đình Yên (1997), Vũ Trung Tạng (2008), Trần Kiên và Mai Sỹ Tuấn (2007), Hoàng Đức Nhuận (2000) với phân loại 4 dạng môi trường (tự nhiên, kiến tạo, không gian, văn hóa xã hội), định nghĩa của UNESCO, Ngân hàng Thế giới (1980) và Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005. Trách nhiệm BVMT được trích dẫn theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam.
    • Khái niệm giáo dục môi trường (Enviromental education) và lịch sử phát triển: Nguồn gốc thuật ngữ từ Patrick Geddes (cuối thế kỷ 19), các tài liệu quốc tế năm 1948 (Abe, Kirk, Wheeler), Luật GDMT của Mỹ (1970), Tuyên bố Hội nghị Tbilisi (1977), Hội nghị Moscow (1987). Tác giả vận dụng Hiến chương Belgrade (1975) với 6 mục tiêu chuẩn quốc tế: Sự nhận biết (Awareness), Tri thức (Knowledge), Thái độ (Attitude), Kỹ năng (Skills), Năng lực đánh giá (Evaluation ability), Tham gia (Participation), cùng nguyên tắc định hướng "Suy nghĩ tầm địa cầu, hành động từ địa phương" (Think globally, Act locally).
    • Vị trí của cấp học được xác định theo Điều 2 Luật Phổ cập giáo dục tiểu học. Lý luận về quá trình nhận thức tâm lý lứa tuổi 6–11 tuổi kế thừa các nghiên cứu thực nghiệm của L. Zankov về sự chuyển biến từ tri giác cảm tính, ghi nhớ máy móc sang quan sát có chủ định, ghi nhớ ý nghĩa và tư duy trừu tượng.
  • Tổng quan nghiên cứu: Tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Lê Văn Khoa và cộng sự (2009), Nguyễn Hữu Chiếm và Lê Hoàng Việt (2012), Bùi Cách Tuyến, Thu Thủy, Lê Ngọc Hóa và Huỳnh Thị Hồng Loan (2015), Võ Trung Minh (2015), Văn Trí, Quách Văn Toàn (2012) và Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Việt Thanh (2017).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, văn bản pháp luật liên quan.
  2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn:
    • Khảo sát giáo viên: Sử dụng phiếu hỏi trực tuyến (phiếu online) do thời gian nghiên cứu trùng với giai đoạn thực hiện giãn cách xã hội phòng chống dịch bệnh. Tổng số phiếu phát ra là 75 phiếu, thu về 65 phiếu hợp lệ từ giáo viên giảng dạy từ khối 1 đến khối 5 tại 3 trường khảo sát.
    • Khảo sát học sinh: Sử dụng phiếu in trực tiếp, khảo sát đối với học sinh từ khối 2 đến khối 5. Tổng số phiếu phát ra và thu về đạt 120 phiếu (mỗi trường 40 phiếu, phân bổ đều 10 phiếu/khối lớp). Khóa luận không khảo sát học sinh khối 1 do học sinh nghỉ học dài ngày vì dịch bệnh, kỹ năng đọc hiểu văn bản phiếu hỏi còn hạn chế.
    • Phương pháp đàm thoại, trao đổi: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp giáo viên và cán bộ phụ trách chuyên môn tiểu học để làm rõ các nội dung quản lý và thực hành sư phạm.
  3. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức tính tỷ lệ phần trăm để xử lý, so sánh và phân tích dữ liệu định lượng thu được từ các bảng hỏi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng làm cơ sở định hướng cho việc đánh giá thực trạng:

  • Hệ thống khái niệm cơ bản: Phân tích định nghĩa về môi trường, các thành phần cấu thành môi trường sống, hiện tượng ô nhiễm môi trường (nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo), khái niệm BVMT và GDMT theo chuẩn mực giáo dục quốc tế.
  • Vị trí, vai trò và mục tiêu GDMT ở trường tiểu học: Xác định tiểu học là giai đoạn hình thành những nét nhân cách cơ bản. Mục tiêu GDMT được chia thành 3 nhóm chuẩn:
    • Về kiến thức: Hiểu biết cơ bản về các quyển tự nhiên (khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển) và mối quan hệ tương tác giữa con người với môi trường.
    • Về kỹ năng: Đánh giá tác động của hành vi con người, dự đoán hậu quả và đề xuất biện pháp xử lý tình huống môi trường cụ thể.
    • Về thái độ: Nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên, hình thành thái độ kiên quyết trước hành vi xâm hại môi trường và tinh thần tự giác tham gia các hoạt động tập thể.
  • Các hình thức GDMT trong nhà trường tiểu học: Phân định rõ 3 hình thức:
    • Giáo dục về môi trường: Tích hợp 12 nội dung thuộc 4 quyển tự nhiên vào các môn học chính khóa như Tự nhiên và Xã hội, Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học, Lịch sử và Địa lý.
    • Giáo dục vì môi trường: Rèn luyện hành vi thông qua hoạt động ngoại khóa như góc sinh giới, theo dõi môi trường bằng dụng cụ đo mưa/nhiệt kế, hội thi sân khấu hóa, câu lạc bộ môi trường, hoạt động lao động dọn vệ sinh, cắm trại và sưu tầm tiêu bản mẫu vật.
    • Giáo dục trong môi trường: Xây dựng cảnh quan học đường xanh, sạch, đẹp, thoáng mát và quy hoạch nhà vệ sinh, hố rác hợp vệ sinh.
  • Các nhân tố tác động đến quá trình giáo dục:
    • Nhân tố chủ quan: Nội dung chương trình sách giáo khoa (tích hợp theo 3 mức độ: toàn phần, bộ phận, liên hệ); phương pháp dạy học (điều tra thực tế, thảo luận nhóm, quan sát, trò chơi sắm vai, nêu gương khen thưởng); hình thức tổ chức; năng lực chuyên môn và sự gương mẫu của đội ngũ giáo viên.
    • Nhân tố khách quan: Đặc điểm nhận thức của học sinh lứa tuổi 6–11; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên Tiền phong); điều kiện cơ sở vật chất (phòng học, thư viện xanh, vườn trường, thiết bị nghe nhìn).

Chương 2: Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở một số trường Tiểu học của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

Chương 2 trình bày quá trình tổ chức điều tra và kết quả thống kê định lượng về thực trạng nhận thức cũng như hoạt động giáo dục tại địa bàn nghiên cứu:

  • Khái quát quá trình điều tra: Mô tả cơ cấu mẫu điều tra tại 3 trường (Trường Tiểu học Trường Yên, Trường Tiểu học Ninh An, Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn) với mẫu khảo sát 65 giáo viên và 120 học sinh.
Đối tượng Trường TH Trường Yên Trường TH Ninh An Trường TH TT Thiên Tôn Tổng cộng
Phiếu GV phát ra 34 15 26 75
Phiếu GV thu về 34 10 21 65
Phiếu HS phát ra 40 40 40 120
Phiếu HS thu về 40 40 40 120
  • Thực trạng nhận thức của giáo viên về môi trường và GDMT:
    • Đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường nước ta: 70,8% (46/65 GV) nhận định môi trường ô nhiễm nghiêm trọng; 27,7% (18/65 GV) đánh giá ô nhiễm nhẹ; 1,5% (1/65 GV) đánh giá không ô nhiễm. Tỷ lệ nhận thức ô nhiễm nghiêm trọng cao nhất tại Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn (85,7%), tiếp theo là Ninh An (70,0%) và Trường Yên (61,8%).
    • Tác giả đối sánh dữ liệu nhận thức với các số liệu thực tế quốc gia: 17.000 container phế liệu ứ đọng cảng biển (tháng 8/2018); 615 cụm công nghiệp chỉ có khoảng 5% có hệ thống xử lý nước thải tập trung; gần 300 khu công nghiệp xả hơn 2 triệu m³/ngày với 70% chưa xử lý triệt để; 23% doanh nghiệp FDI xả thải vượt quy chuẩn 5–12%; khoảng 9.000 người tử vong và hơn 200.000 ca ung thư mỗi năm do nguồn nước ô nhiễm; Việt Nam đứng thứ 10 về ô nhiễm không khí tại Hội nghị Lagos 2016; Hà Nội đứng thứ 2 và TP. Hồ Chí Minh đứng thứ 15 về ô nhiễm không khí khu vực Đông Nam Á năm 2018 (theo GreenID).
    • Mức độ cấp bách của công tác BVMT: 87,7% (57/65 GV) đánh giá là cấp bách (Trường Tiểu học Ninh An đạt 100%, Trường Yên đạt 91,2%); 12,3% (8/65 GV) đánh giá ở mức bình thường; 0% cho rằng chưa cần thiết.
    • Mức độ cần thiết của việc GDMT cho học sinh tiểu học: 87,7% giáo viên khẳng định là rất cần thiết; 12,3% cho rằng cần thiết; 0% đánh giá chưa cần thiết.
    • Quan điểm về trách nhiệm và động lực: 100% giáo viên đồng thuận quan điểm GDMT là trách nhiệm chung của nhà trường, gia đình và xã hội; 100% giáo viên ủng hộ việc khen thưởng kịp thời học sinh có thành tích BVMT.
    • Quan điểm về dự giờ, thao giảng nội dung GDMT: 44,6% giáo viên cho rằng cần thiết; 41,5% đánh giá không cần thiết; 13,8% xem là không quan trọng. Đáng chú ý, tại Trường Tiểu học Trường Yên có tới 61,8% giáo viên không ủng hộ công tác thao giảng, dự giờ đối với nội dung GDMT do tâm lý xem đây là nội dung lồng ghép phụ.
  • Thực trạng nhận thức của học sinh và hoạt động GDMT tại nhà trường:
    • Khảo sát các kênh thông tin học sinh tiếp cận kiến thức môi trường, nhận thức về nguyên nhân gây ô nhiễm và thái độ xử lý tình huống khi thấy bạn vứt rác bừa bãi.
    • Khảo sát thực trạng đào tạo, bồi dưỡng năng lực sư phạm GDMT cho giáo viên; mức độ tích hợp nội dung trong các môn học chính khóa; việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực; tổ chức hoạt động ngoại khóa (thư viện xanh, câu lạc bộ, lao động trồng cây) và sự phối hợp với chính quyền địa phương khu dân cư nơi trường đóng.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường: Đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm, đổi mới nội dung tích hợp, đa dạng hóa hình thức trải nghiệm thực tế và tăng cường liên kết nhà trường – gia đình – xã hội phù hợp đặc thù địa bàn huyện Hoa Lư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu định lượng phản ánh nhận thức của giáo viên tại địa bàn khảo sát:

Tiêu chí khảo sát Trường TH Ninh An Trường TH Trường Yên Trường TH TT Thiên Tôn Tổng hợp chung (N=65)
Nhận thức môi trường ô nhiễm nghiêm trọng 70,0% 61,8% 85,7% 70,8%
Đánh giá công tác BVMT là cấp bách 100% 91,2% 76,2% 87,7%
Đánh giá GDMT tiểu học là rất cần thiết 90,0% 91,2% 76,2% 87,7%
Ủng hộ dự giờ, thao giảng GDMT 50,0% 23,5% 66,7% 44,6%
Trách nhiệm GDMT thuộc Nhà trường - Gia đình - Xã hội 100% 100% 100% 100%
Ủng hộ khen thưởng thành tích BVMT 100% 100% 100% 100%

Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả đã chỉ ra các điểm đóng góp chính:

  1. Phản ánh thực trạng nhận thức sư phạm tại địa phương: Số liệu cho thấy đa số giáo viên (87,7%) đã nhận thức đúng đắn về sự cần thiết và tính cấp bách của GDMT. Tuy nhiên, vẫn tồn tại rào cản về mặt tâm lý và phương pháp khi có tới 41,5% giáo viên chưa đồng thuận với việc tổ chức dự giờ, thao giảng nội dung GDMT (tỷ lệ không ủng hộ tại Trường Tiểu học Trường Yên lên tới 61,8%).
  2. Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Về phía giáo viên: Lập bảng lựa chọn nội dung bài học có thể tích hợp trong chương trình từng môn học; thiết kế giáo án linh hoạt; kết hợp phương pháp quan sát, thảo luận nhóm, trò chơi sắm vai và nêu gương.
    • Về phía nhà trường: Xây dựng kế hoạch giám sát hoạt động tích hợp; tổ chức các buổi tập huấn chuyên môn; tạo điều kiện xây dựng "thư viện xanh" và các góc sinh thái học đường; thiết lập cơ chế khen thưởng định kỳ.
    • Về phía phối hợp xã hội: Tăng cường liên kết giữa nhà trường với phụ huynh học sinh và các tổ chức đoàn thể địa phương (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ) để tổ chức cho học sinh tham gia vệ sinh đường làng ngõ xóm và bảo vệ cảnh quan khu di tích lịch sử, du lịch.
  3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Khóa luận là công trình nghiên cứu khảo sát đầu tiên về thực trạng giáo dục ý thức BVMT cấp tiểu học trên địa bàn huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Kết quả cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho cán bộ quản lý giáo dục cùng giáo viên tiểu học tại địa phương trong việc điều chỉnh kế hoạch giảng dạy tích hợp và tổ chức hoạt động ngoại khóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số giới hạn trong quá trình triển khai thực tế:

  • Hạn chế về mẫu và công cụ khảo sát: Do thời gian thực hiện đề tài trùng với đợt bùng phát dịch bệnh (học kỳ II năm học 2019–2020), việc lấy ý kiến giáo viên phải chuyển đổi sang hình thức trực tuyến dẫn đến số lượng phiếu thu về ở một số trường có sự hao hụt (thu về 65/75 phiếu). Đối với học sinh, nghiên cứu buộc phải loại trừ học sinh khối 1 ra khỏi mẫu khảo sát do học sinh nghỉ học kéo dài và năng lực đọc hiểu bảng hỏi còn hạn chế, chỉ khảo sát được 120 học sinh từ khối 2 đến khối 5.
  • Hạn chế về phạm vi không gian: Khảo sát mới chỉ thực hiện trên địa bàn 3 trường tiểu học đại diện (Trường Yên, Ninh An, thị trấn Thiên Tôn) trên tổng số 11 trường tiểu học của huyện Hoa Lư.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô điều tra đến toàn bộ 11 trường tiểu học thuộc huyện Hoa Lư và các địa bàn lân cận trong tỉnh Ninh Bình nhằm tăng tính đại diện thống kê.
    • Xây dựng bộ công cụ điều tra bằng hình ảnh trực quan hoặc phương pháp quan sát hành vi chuyên biệt để có thể đánh giá được học sinh lớp 1.
    • Triển khai nghiên cứu thực nghiệm sư phạm đối với các mô hình dạy học trải nghiệm gắn với bảo vệ môi trường di sản du lịch tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Giáo viên và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết về 3 hình thức GDMT (về môi trường, vì môi trường, trong môi trường) và bảng phân loại 12 nội dung kiến thức thuộc 4 quyển tự nhiên có thể tích hợp vào các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Đạo đức, Tiếng Việt.
  • Cán bộ quản lý giáo dục cấp tiểu học tại địa phương: Bảng số liệu khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh là nguồn tài liệu tham khảo để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, kiểm tra đánh giá dạy học tích hợp và đầu tư cơ sở vật chất (thư viện xanh, góc thiên nhiên).
  • Người nghiên cứu về GDMT tại khu vực phát triển du lịch: Cung cấp phương pháp thiết kế phiếu hỏi khảo sát nhận thức môi trường và kinh nghiệm liên kết giáo dục học đường với việc giữ gìn cảnh quan du lịch sinh thái, di tích văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận được thực hiện tại những trường tiểu học nào và trong khoảng thời gian nào?
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020 tại 3 trường tiểu học thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình: Trường Tiểu học Trường Yên, Trường Tiểu học Ninh An và Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn.

2. Tỷ lệ giáo viên nhận định thực trạng môi trường nước ta bị ô nhiễm nghiêm trọng là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát 65 giáo viên cho thấy có 70,8% giáo viên đánh giá môi trường nước ta đang bị ô nhiễm nghiêm trọng (trong đó Trường Tiểu học thị trấn Thiên Tôn có tỷ lệ cao nhất là 85,7%, Ninh An là 70,0%, Trường Yên là 61,8%).

3. Vì sao khóa luận không tiến hành khảo sát phiếu hỏi đối với học sinh khối lớp 1?
Trong học kỳ II năm học 2019–2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh khiến học sinh nghỉ học dài ngày, học sinh lớp 1 còn nhiều hạn chế trong kỹ năng đọc hiểu văn bản phiếu hỏi, nên tác giả chỉ tiến hành phát phiếu hỏi đối với học sinh từ khối 2 đến khối 5.

4. Quan điểm của giáo viên về việc tổ chức dự giờ, thao giảng trong dạy học GDMT như thế nào?
Kết quả điều tra cho thấy có 44,6% giáo viên cho rằng cần thiết; 41,5% cho rằng không cần thiết và 13,8% cho rằng không quan trọng. Riêng tại Trường Tiểu học Trường Yên, có tới 61,8% giáo viên không ủng hộ việc thao giảng, dự giờ đối với nội dung này do tâm lý xem đây là nội dung lồng ghép phụ.

5. Khóa luận phân loại các hình thức giáo dục môi trường trong trường tiểu học thành những nhóm nào?
Khóa luận chia thành 3 hình thức cơ bản: Giáo dục về môi trường (tích hợp kiến thức vào bài học chính khóa), Giáo dục vì môi trường (rèn luyện hành vi qua câu lạc bộ, góc sinh giới, lao động, hội thi), và Giáo dục trong môi trường (xây dựng khuôn viên trường học xanh, sạch, đẹp).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Thị Phương đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học và phản ánh bức tranh thực trạng nhận thức tại 3 trường tiểu học của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình năm học 2019–2020. Nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn cán bộ, giáo viên đã nhận thức rõ tính cấp bách của công tác bảo vệ môi trường, song việc triển khai dạy học tích hợp và thao giảng chuyên môn vẫn còn những e ngại nhất định. Các giải pháp sư phạm và định hướng phối hợp giữa nhà trường, gia đình và địa phương được đề xuất là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nâng cao chất lượng giáo dục môi trường tại các trường tiểu học hiện nay.