CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1. Những khái luận chung về thanh toán không dùng tiền mặt trong hoạt động ngân hàng 1. Khái niệm, đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt 1. Khái niệm Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là một phương thức thanh toán đã hình thành từ lâu nhưng nó chỉ thực sự phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường, dựa trên nền tảng sự phát triển của thương mại điện tử và Internet, là xu hướng mới trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và công nghệ thông tin, hình thức thanh toán này có nhiều ý nghĩa trong quá trình thanh toán hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể tham gia. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là các nghiệp vụ chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ,. được thực hiện bằng cách bù trừ công nợ thông qua tài khoản ở ngân hàng. Theo tác giả Đặng Công Hoàn (2015): Thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phương thức thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán1.
Như vậy, TTKDTM là nghiệp vụ trung gian của ngân hàng, ngân hàng chỉ thực hiện thanh toán khi có lệnh của chủ tài khoản (chủ tài khoản bao gồm các TCKT, đơn vị cá nhân mở tài khoản tại Ngân hàng). Vai trò của các ngân hàng trong hình thức thanh Đặng Công Hoàn (2015): Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho người dân Việt 1 Nam. Phát triển Tài chính Cá nhân-Kinh nghiệm Quốc tế và Thực tiễn Việt Nam, (Sách Chuyên khảo viết chung với các tác giả TS Lê Trung Thành, TS Đinh Thị Thanh Vân), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội 10/2015. 9 toán không dùng tiền mặt nhằm kiểm soát các hoạt động thanh toán của các bên tham gia.
Theo đó, việc chi trả tiền hàng hóa, dịch vụ sẽ được thực hiện bằng cách ngân hàng sẽ trích chuyển một số tiền từ tài khoản của người trả sang tài khoản của người hưởng, tức ngân hàng sẽ ghi nợ có trên tài khoản tiền gửi của chủ thể thanh toán. Đồng thời thông qua các giấy báo nợ, báo có của ngân hàng gửi đến, KH biết được quá trình thanh toán đã hoàn tất. TTKDTM thường bao gồm 4 bên: i) Bên mua hàng, được hiểu là bên nhận dịch vụ cung ứng; ii) Tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ bên mua được hiểu là Ngân hàng nơi đơn vị mua mở tài khoản giao dịch; iii) Bên bán được hiểu là bên cung ứng hàng hóa và dịch vụ và iv) Tổ chức cung ứng dịch vụ phục vụ bên bán là Ngân hàng nơi đơn vị bán mở tài khoản giao dịch. Bản chất của hình thức TTKDTM chính là hạn chế lượng tiền mặt trong lưu thông hàng hóa, giảm thiểu chi phí xã hội, mở rộng không gian, rút ngắn thời gian cho quá trình bán và mua hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế.
Thay vào đó là việc phát triển các dịch vụ chuyên nghiệp về thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến, thanh toán điện tử mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt quy đổi. Theo đó, TTKDTM là tổng hợp tất cả các khoản thanh toán tiền tệ giữa các đơn vị, cá nhân được thực hiện bằng cách tính chuyển tiền trên tài khoản, hoặc bù trừ lẫn nhau thông qua ngân hàng mà không trực tiếp sử dụng tiền mặt trong khoản thanh toán đó. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt như sau: Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách 10 bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động tiền tệ mà ở đây tiền vừa là công cụ để kế toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ.
Ở Việt Nam, TTKDTM là quan hệ thanh toán được thực hiện và tiến hành bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị này sang đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị thông qua ngân hàng. Do vậy, dịch vụ TTKDTM có một số đặc điểm sau: Một là, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức vận động của tiền tệ, độc lập với sự vận động của hàng hóa cả về thời gian lẫn không gian và thường không có sự ăn khớp nhau. Thông thường sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận động của hàng hóa dịch vụ không có sự ăn khớp với nhau. Đây là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất của hình thức TTKDTM.
Chúng ta biết rằng, khác với thanh toán bằng tiền mặt, TTKDTM không phải được tiến hành một cách trực tiếp theo kiểu giao hàng và nhận tiền, mà việc giao hàng được tiến hành ở nơi này, trong một thời điểm này, nhưng việc thanh toán có thể được thực hiện ở một địa điểm khác, trong một thời gian khác. Sự tách rời như vậy giữa tiền và hàng hóa, dịch vụ xảy ra một cách bình thường và đó là điều đương nhiên diễn ra trong hoạt động kinh doanh, thương mại có liên quan đến việc thanh toán không dùng tiền mặt. Hai là, trong TTKDTM, vật trung gian trao đổi không xuất hiện như trong hình thức thanh toán dùng tiền mặt theo kiểu Hàng – Tiền – Hàng (H-T-H) mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán. Với đặc điểm này, các bên tham gia thanh toán nhất định phải mở tài khoản tại ngân hàng, đồng thời phải có tiền trên tài khoản đó (nhất là đối với người mua).
Bởi lẽ, 11 nếu không đảm bảo điều này thì việc thanh toán không thể tiến hành được. Ngoài ra, do phải mở tài khoản tại ngân hàng nên vấn đề kiểm soát của ngân hàng trong việc tổ chức thanh toán là hình thức cần thiết, kiểm soát tính chất đúng đắn của nội dung thanh toán, kiểm soát tính hợp pháp của chứng từ. Thanh toán không dùng tiền mặt thúc đẩy nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh tế quốc dân, dẫn đến giảm chi phí sản xuất và lưu thông, tăng tích lũy cho quá trình tái sản xuất. Trong quá trình mua bán, các nguồn vật tư hàng hóa được luân chuyển từ đơn vị mua hàng sang đơn vị bán hàng.
Ba là, trong TTKDTM phải có ít nhất ba chủ thể tham gia: Người chi trả, người thụ hưởng và tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tức là Ngân hàng hoặc KBNN. Bởi vì thanh toán không dùng tiền mặt là việc thanh toán không sử dụng đến tiền mặt mà dùng hình thức trích chuyển vốn trên tài khoản từ tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của tổ chức thanh toán, vì vậy để hoạt động TTKDTM diễn ra trên thực tế thì bắt buộc phải có ít nhất 3 chủ thể nêu trên trong quan hệ này. Trong đó, ngân hàng là bên thứ ba không thể thiếu được trong thanh toán chuyển khoản giữa các KH. Nghĩa là bên chi trả và bên thụ hưởng có nhu cầu thanh toán với nhau.
Bốn là, trong TTKDTM, ngân hàng có vai trò rất quan trọng. Theo đó, ngân hàng vừa là người tổ chức vừa là người thực hiện các khoản thanh toán. Chỉ có ngân hàng, người quản lý tài khoản tiền gửi của các KH mới được quyền trích chuyển những tài khoản dưới sự yêu cầu của người chi trả và theo các nguyên tắc chuyên môn đặc thù như là một nghiệp vụ riêng của mình. Đối với nghiệp vụ này, ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán đối với các KH của mình.
Từ đó giúp kiểm soát được hoạt động giao dịch chính xác hơn, chống lại các giao dịch chui, không minh bạch, qua đó chống thất thu thuế và kiểm soát được nạn rửa tiền, tiền giả. Tiền mặt là tiền vô danh, nhưng tiền thẻ hay tiền điện tử là tiền định danh nên nếu mất tiền mặt là mất tiền, còn mất thẻ hay mất ví điện tử vẫn không bị mất tiền vì đều có mã riêng mà đối với người nhặt được chỉ là vật vô giá trị. Ngoài ra, TTKDTM còn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền 12 vững, tiện lợi, tạo sự minh bạch trong các khoản chi tiêu, giao dịch, chuyển đổi với tiền của nước khác hay giúp đỡ người thân từ xa. Thực tế cũng đã chứng minh, nền kinh tế mạnh là một nền kinh tế luôn đi kèm với một hệ thống thanh toán hiện đại.
Điều này cũng đồng nghĩa với xu thế phát triển nghiệp vụ thanh toán trong thương mại của một nền kinh tế thị trường là TTKDTM. Hoạt động này mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia, như nhanh chóng thanh toán các giao dịch có giá trị lớn, các giao dịch ở xa tránh được các rủi ro nếu phải mang tiền mặt đến nơi nhận hàng, nhất là khi phải trả các khoản tiền lớn, giảm thiểu được xử lý cồng kềnh việc vận chuyển cũng như hạn chế bị cướp giật khi đang di chuyển. Khi TTKDTM, người tiêu dùng có thể nhận được nhiều khuyến mãi từ người bán cũng như từ ngân hàng. Cùng với đó, xã hội giảm được chi phí in ấn, vận chuyển, kiểm đếm hay bảo quản tiền mặt,…Một khi người tiêu dùng thấy được lợi ích và duy trì thường xuyên thói quen TTKDTM, nền kinh tế vĩ mô sẽ cùng hưởng lợi theo.
Tóm lại, TTKDTM có các đặc 4 đặc điểm cơ bản đã phản ánh rõ bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức vận động của tiền tệ, độc lập với sự vận động của hàng hóa cả về thời gian lẫn không gian và thường không có sự ăn khớp nhau; vật trung gian trao đổi không xuất hiện, mà chỉ xuất hiện dưới dạng tiền kế toán hay tiền ghi sổ và được ghi chép trên các chứng từ sổ sách kế toán; phải có ít nhất ba chủ thể tham gia trong đó ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng. Với những đặc điểm nêu trên, TTKDTM nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ phát huy được tác dụng tích cực của nó.