CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Giới thiệu đề tài Ngày nay có rất nhiều phương pháp được sử dụng để điều khiển hệ phi tuyến như: phương pháp điều khiển cổ điển (PID, phương pháp tuyến tính hóa, điều khiển trượt, cuốn chiếu, …), phương pháp điều khiển hiện đại (tối ưu, thich nghi, bền vững, …) và phương pháp điều khiển thông minh (điều khiển dùng mạng thần kinh, điều khiển mờ, điều khiển thích nghi hoặc các thuật toán tối ưu bầy đàn, giải thuật di truyền…). Tuy nhiên, các giải thuật điều khiển muốn đạt được kết quả tốt đều phải dựa vào vào kỹ thuật điều khiển PID. …các luật điều khiển cần phải có ít nhất một khâu điều khiển dựa vào sai số. Phương pháp điều khiển được đề xuất tập trung vào việc nghiên cứu, phân tích và ứng dụng hiệu quả của kỹ thuật điều khiển PID.
Để cải thiện hiệu quả phương pháp PID, việc hiệu chỉnh các giá trị độ lợi các khâu P, D, I rất quan trọng. Hơn nữa, trong quá trình điều khiển hệ phi tuyến, có rất nhiều yếu tố không chắc chắn tác động vào hệ thống làm hệ thống mất ổn định. Việc chọn cố định các thông số PID thì không thích hợp trong trường hợp này. Vì vậy, phương pháp đề xuất tập trung vào việc tìm giải thuật thích nghi để cập nhật các độ lợi của bộ điều khiển PID.
Ngoài ra, để giải quyết vấn đề về các thành phần không biết, không chắc chắn luôn xuất hiện trong hệ thống điều khiển (nhiễu, thông số mô hình hệ thống không chắc chắn, các thay đổi không biết trước, …), phương pháp đề xuất sẽ ứng dụng mạng Nơ ron và kỹ thuật thích nghi bền vững. Các phương pháp điều khiển hiện đại kết hợp như điều khiển tối ưu - thích nghi, điều khiển tối ưu - bền vững cũng được áp dụng mạnh mẽ trong các hệ thống điều khiển phi tuyến. hơn so với trên đối tượng tuyến tính. Các hệ thống có số ngõ vào bằng số ngõ ra sẽ đơn giản hơn so với các hệ thống có số ngõ vào ít hơn so với ngõ ra, tức là tồn tại một ngõ ra tự do, không bị điều khiển trực tiếp, ngõ ra này được điều khiển gián tiếp tuỳ theo đối tượng.
Hệ thống con lắc ngược là một hệ thống điều khiển kinh điển, nó được sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu ở hầu hết các trường đại học 3 trên khắp thế giới. Hệ thống con lắc ngược là mô hình phù hợp để kiểm tra các thuật toán điều khiển hệ phi tuyến cao. Đây là một hệ thống SIMO (Single Input Multi Output) điển hình vì chỉ gồm một ngõ vào là lực tác động cho động cơ mà phải điều khiển cả vị trí và góc lệch con lắc ngược sao cho thẳng đứng (ít nhất hai ngõ ra). Ngoài ra, phương trình toán học được đề cập đến của con lắc ngược mang tính chất phi tuyến điển hình.
Vì thế, đây là một mô hình nghiên cứu lý tưởng cho các phòng thí nghiệm điều khiển tự động. Các giải thuật hay phương pháp điều khiển được nghiên cứu trên mô hình con lắc ngược nhằm tìm ra các giải pháp tốt nhất trong các ứng dụng điều khiển thiết bị tự động trong thực tế. Tổng quan tình hình nghiên cứu Vấn đề tìm kiếm một luật điều khiển hiệu quả cho hệ thống có số cơ cấu chấp hành ít hơn số bậc tự do cần điều khiển thu hút sự chú ý ngày càng tăng vì đặc tính đặc biệt của nó. Hệ có số cơ cấu chấp hành ít hơn số bậc tự do xuất hiện ngày càng nhiều trong các ứng dụng, chẳng hạn như các robot trong lĩnh vực hàng không vũ trụ haycác robot hoạt động dưới nước.
Với sự có mặt của khớp tự do có cơ cấu chấp hành và khớp tự do không có cơ cấu chấp hành khiến cho việc điều khiển theo cách thông thường không thể kiểm soát tốt các ngõ ra theo mong muốn. Do đó, hệ này không thể điều khiển bám theo tín hiệu đặt một cách tùy ý. Con lắc ngược đơn là một mô hình không mới, từ xưa đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về mô hình này. Tuy nhiên đây vẫn là một mô hình phi tuyến có số ngõ vào ít hơn số ngõ ra kinh điển, được dùng để kiểm chứng các giải thuật, bao gồm các thuật toán từ kinh điển đến hiện đại.
Các kết quả thu được đều có những ưu điểm và hạn chế. Các giải thuật kinh điển được thiết kế và thực hiện khá nhiều ở các công trình như, tác giả Nguyễn Văn Đông Hải, Ngô Văn Tuyên xây dựng bộ PID-Neuron điều khiển trực tiếp phải thêm bộ bù PID, kĩ thuật trên không yêu cầu biết trước mô hình toán học hệ thống; Người thiết kế bộ điều khiển cần có kinh nghiệm và thời gian thử sai để có được bộ điều khiển tốt nhất. Tuy nhiên, hệ thống chỉ hoạt động tốt quanh điểm làm việc tĩnh. Stelian – Emilian Oltean [1] [2], đã đề xuất bộ điều khiển PD và fuzzy- PD để điều khiển swing-up và ổn định cho hệ con lắc ngược (rotary inverted 4 pendulum – RIP), nhóm tác giả Minho Park, Yeoun Jae Kim, Ju Jang Lee sử dụng LQR điều khiển swing-up và ổn định hệ RIP [3] [4] [5].
Nhóm tác giả Nguyễn Văn Khanh, Nguyễn Vĩnh Hảo đã thiết kế bộ điều khiển cuốn chiếu theo luật điều khiển trong Tsai & Lin (2003), cho kết quả khả quan [6]. Tuy nhiên các phương pháp trên có những điểm yếu như nếu không biết chính xác thông số vật lý, hay mô hình toán không chính xác thì dẫn đến việc thiết kế bộ điều khiển vô cùng khó khăn. Các thông số điều khiển được thực hiện bằng phương pháp thử sai. Thông thường để xác định các thông số điều khiển đúng cần phải hiểu rõ đặc tính động học của hệ và thử sai rất nhiều lần và tốn kém.
Trong phương pháp điều khiển LQR phải nhận dạng chính xác mô hình hệ thống mới có đáp ứng tốt. Tuy nhiên, chất lượng điều khiển sẽ không tốt khi thông số mô hình thay đổi hoặc có nhiễu. Nhóm tác giả Shailaja Kurode, Asif Chalaga, B. Bandyopadhyay đã sử dụng bộ điều khiển trượt [7] [8] [9] cho hệ và có kết quả tốt nhưng do đặc tính điều khiển trượt nên có hiện tượng chattering gây ảnh hưởng đến phần cứng hệ thống.
Năm 2007, Lon-Chen Hung và Hung Yuan Chung ở khoa kỹ thuật điện tử đại học quốc gia Đài Loan đã giới thiệu kỹ thuật điều khiển trượt phân ly dùng mạng nơ-rôn DNNSMC (Decoupled Neuron Network Sliding Mode Control) cho các hệ thống phi tuyến bậc bốn. Tính hiệu quả của bộ điều khiển đã được kiểm chứng thông qua việc mô phỏng trên đối tượng con lắc đơn. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả Nguyễn Đức Minh, Dương Hoài Nghĩa, Nguyễn Đức Thành đã dùng bộ điều khiển ANSMC [10], hiện tượng chattering đã được khắc phục (không còn tồn tại ở đáp ứng của u), hệ thống bền với sai số mô hình và nhiễu; Nhưng trong phương pháp này vẫn cần phải biết thông số của hệ thống mới thiết kế được bộ điều khiển. Nhóm tác giả Xuebo Yang, Xiaolong Zheng [11] đưa ra và thực nghiệm luật điều khiển thích nghi bền vững dùng nơ-ron, kết hợp với bộ hoạch định độ lợi đạt kết quả chất lượng điều khiển tốt, bền vững với nhiễu nhưng các tham số cần chọn để thử sai khá nhiều.
Một số phương pháp điều khiển thích nghi cho hệ cũng được nghiên cứu trong [12] [13] [14] [15][10], các đã cho kết quả có tính ứng dụng cao khi điều khiển hệ dưới bậc. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Mô hình con lắc ngược quay Phần này mô tả việc xây dựng mô hình con lắc ngược quay trên mô phỏng cũng như thực nghiệm và các vấn đề liên quan Mô hình con lắc ngược quay với phần cứng được xây dựng dựa vào các tham số tham khảo từ các mô hình đã được công bố chạy thực nghiêm thành công, điển hình là mô hình của hang QUANSER [16], và các mô hình đã được thực hiện. Mô hình này chưa bao gồm thông số cơ cấu chấp hành là động cơ tạo moment Mô hình phần cứng Encoder PCI 6221 Rotary Encoder Inverted Pendulum Motor DC Amplifier PC driver Hình 2.1 Cấu trúc mô hình dùng cho thực nghiệm Cấu trúc mô hình được dung để thực nghiệm trong luận văn như hinh. Phần cứng được sử dụng bao gồm: • Máy tính PC cài đặt Matlab 2013b thực hiện các thuật toán điều khiển thông qua công cụ Real-Time Windows Target trong Matlab • Board thu thập dữ liệu (DAQ) PCI 6221 của National Instrument • Động cơ DC Minertia 27V/70W 2000RPM kèm encoder 240 xung/vòng.
Khi dùng bộ QEI đọc giá trị Encoder và dùng phương pháp lấy đạo hàm để ra vận tốc góc, sai số góc và vận tốc góc khi lấy mẫu ở 100Hz ±0. 6 • Mạch điều khiển động cơ có thông số chịu tải 300W (25V, 15A) • Encoder 1000 xung/vòng thu thập dữ liệu vị trí tay máy, có sai số góc và sai số vận tôc tại thời gian lấy mẫu ±0. Các thuật toán điều khiển hệ thống sẽ được mô phỏng theo mô hình và thông số được trình bày ở phần sau. Khi thực hiện với mô hình thực đã thi công sẽ được điều chỉnh các thông số cho phù hợp.
Phương trình động lực học của hệ thống Mô hình toán hệ con lắc ngược quay được xây dựng theo phương trình Euler – Lagrange như sau Hình 2.2 Sơ đồ mô tả chuyển động con lắc ngược quay 7 Bảng 2.1 Bảng thông số hệ thống RIP Đặc tính vật lý Ký hiệu Đơn vị Khối lượng con lắc m kg Chiều dài con lắc Lp m Khoảng cách trọng tâm con lắc đến trục quay Lp/2 m Mô-men quán tính con lắc Jp Nrad Chiều dài tay máy La M Mô-men quán tính tay máy Ja Nrad Vị trí góc quay tay máy θ rad Vị trí góc quay con lắc α rad Hệ số ma sát các trục quay ba, bp N/m/s Phương trình thể hiện tọa độ trọng tâm hệ con lắc: 𝑥𝑝 = 𝑙𝑎. cos𝛼 Lấy đạo hàm theo thời gian ta được phương trình vận tốc con lắc 𝑣𝑝𝑥 = 𝑥̇ 𝑝 = −𝜃̇.