Chương 1: Những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay. 5 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1. Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 1.
Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Để hiểu được thế nào là TTHCCT, trước hết phải hiểu được ý nghĩa cụm từ “thỏa thuận”. Vậy thỏa thuận là gì? Thỏa thuận không chỉ không chỉ là một hành vi mô tả chính thức bằng văn bản về các điều khoản và điều kiện cho sự hợp tác. Một thỏa thuận có thể là: Một thỏa thuận chính thức giữa các doanh nghiệp; Một quyết định đưa ra bởi hiệp hội của các doanh nghiệp: thay thế thỏa thuận giữa các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội, phù hợp cam kết chung của hiệp hội đó. Khi các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình đưa ra quyết định thì quyết định của hiệp hội cũng chính là quyết định của các thành viên của hiệp hội đó; hoặc một cam kết đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia mà không thể hiện bằng văn bản.
Để một hành vi hoặc một tập hợp các hành vi cấu thành một thỏa thuận thì điều phải luôn ghi nhớ là khi nào có sự thống nhất về ý chí, khi đó có thỏa thuận. Các hành vi giống nhau của các doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh là đã có thỏa thuận giữa họ với nhau [2, tr. Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường. Khi chấp nhận chuyển đổi từ nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam phải chấp nhận những quy luật của nền kinh tế thị trường trong đó có quy luật về cạnh tranh.
Quá trình cạnh tranh buộc các 6 z doanh nghiệp luôn phải nỗ lực hết mình để có thể hơn đối thủ. Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp coi quy luật cạnh tranh như một mối nguy hại cho lợi nhuận và sự phát triển. Thay vì việc họ nỗ lực thay đổi, cải thiện quy trình sản xuất kinh doanh của mình hướng tới người tiêu dùng và tạo nền tảng phát triển bền vững thì họ tìm đến nhau để thỏa thuận, phân chia cho nhau để đảm bảo lợi ích hai bên không bị tổn hại hoặc tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp. Điều này vô hình trung đã gây hậu quả tất yếu trước hết là những người tiêu dùng, sau là ảnh hưởng sự phát triển kinh tế, hình thành sự độc quyền nhất định trong thị trường.
Từ các nhìn nhận đánh giá, pháp luật cạnh tranh các nước trên thế giới đều có những quy định điều chỉnh những hành vi TTHCCT. Khoản 1 điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốc gia thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh. Ở Châu Âu, TTHCCT quy định tại điều 101 của Hiệp ước thành lập Liên minh châu Âu như sau: Mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, các quyết định của hiệp hội các doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa các thành viên và có mục đích hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường của liên minh, đều bị coi là đi ngược lại với mục đích thành lập thị trường chung và bị cấm [5, tr. Tại Nhật Bản, khoản 6, điều 2, Luật Chống độc quyền quy định: Hạn chế thương mại bất hợp lý là các hoạt động kinh doanh mà thông qua đó bất kỳ doanh nghiệp nào bằng hợp đồng, thỏa 7 z thuận hay bất kỳ các hoạt động thông đồng khác, không phụ thuộc tên gọi, cùng hạn chế hay tiến hành các hoạt động kinh doanh của họ theo cách thức cố định giá, duy trì tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất công nghệ, sản phẩm, cơ sở sản xuất hay khách hàng hoặc giao dịch của các đối tác, gây ra hạn chế đáng kể đối với cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, đi ngược lại với lợi ích chung [5, tr.
Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh không đưa ra định nghĩa thế nào là TTHCCT mà thay vào đó luật liệt kê 8 Loại TTHCCT [13, Điều 8]. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm: 1. Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; 2. Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; 3.
Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; 4. Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; 5. Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; 6. Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; 8 z 7.
Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; 8. Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Theo Luật Cạnh tranh thì TTHCCT là thỏa thuận giữa hai hay nhiều tổ chức, cá nhân kinh doanh có tác động làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Theo đó luật không quy định về hình thức thỏa thuận (văn bản hay bằng miệng, công khai hay ngầm) cũng như mục đích của thỏa thuận [5, tr.
Khi xem xét một thỏa thuận có bị coi là TTHCCT không thì chỉ cần xét xem thỏa thuận đó có mục đích thực hiện một hoặc một số hành vi nêu tại Luật Cạnh tranh hay không. Những đặc trưng pháp lý cơ bản của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Để hiểu cụ thể về TTHCCT và có thể phân biệt được hành vi TTHCCT với những hành vi khác thì trước hết phải nhận dạng được hành vi TTHCCT thông qua những đặc trưng pháp lý cơ bản sau: Thứ nhất, TTHCCT là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể trong quan hệ TTHCCT [19]. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2, Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được hiểu là các tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam.
Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động độc lập với nhau và hoàn toàn không phụ thuộc với nhau về tài chính. Như vậy, trường hợp công ty mẹ - công ty con, hay giữa công ty với đại lý của mình có sự thỏa thuận thì không coi là TTHCCT. 9 z Doanh nghiệp là chủ thể tạo nên và quyết định mức độ cũng như hình thức của cạnh tranh, đồng thời, cũng chính các doanh nghiệp có thể gây hạn chế, giảm bớt hay thậm chí triệt tiêu cạnh tranh do chính mình tạo ra bằng các thỏa thuận. Các TTHCCT có thể là giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của nhau hoặc có thể là giữa những doanh nghiệp có mối liên hệ với nhau trong cùng một chuỗi sản xuất hay cung ứng sản phẩm, dịch vụ.
Thứ hai, giữa các doanh nghiệp có thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Thoả thuận là đặc trưng pháp lý cơ bản và là yếu tố cấu thành hành vi quan trọng, được hiểu là sự thống nhất ý chí giữa các bên tham gia [19]. Trong TTHCCT đòi hỏi phải có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận thông qua sự thể hiện và thống nhất ý chí của những người có thẩm quyền và hướng tới mục đích hạn chế cạnh tranh. Các doanh nghiệp tham gia TTHCCT có thể nhằm cùng một mục đích hoặc nhiều mục đích khác nhau.
Tuy nhiên, dù với mục đích nào thì doanh nghiệp đã có sự thống nhất ý chí về cùng thực hiện một hành động nào đó đều bị coi là hành vi TTHCCT. Vì vậy, TTHCCT thường là kết quả của quá trình đàm phán, thương lượng giữa các bên tham gia với nhau liên quan đến một hoặc một số nội dung hay yếu tố nào đó của thị trường. Tuy nhiên, cũng có trường hợp các bên tham gia không trực tiếp thỏa thuận với nhau mà gián tiếp đạt được sự thoả thuận thông qua các nghị quyết, quyết định hay hành động chung của Hiệp hội mà các bên là thành viên. Sở dĩ trường hợp này cũng được coi là thoả thuận bởi khi các doanh nghiệp tham gia và là thành viên của hiệp hội, tự nguyện chấp nhận hay đồng tình theo những cam kết hay chủ trương chung của hiệp hội, chấp nhận cho phép hiệp hội được đưa ra nghị quyết, quyết định hoặc hành động chung và bản thân các doanh 10 z nghiệp thành viên tuân thủ theo thì đó cũng chính là một sự thoả thuận giữa các doanh nghiệp thành viên đã đạt được.
Hình thức của thỏa thuận dạng kiểu như vậy gần như mang tính chất uỷ quyền quyết định cho hiệp hội do vậy có giàng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý với các thành viên. Ngoài ra, thoả thuận hạn chế cạnh tranh còn có thể biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hay đáp ứng những yêu cầu do một hoặc một số bên đặt ra. Trong thực tế, có trường hợp các doanh nghiệp thực hiện những hành vi giống nhau nhưng không vì thế mà có thể kết luận giữa các doanh nghiệp có sự thoả thuận bởi có thể đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên trên cơ sở tính toán và đưa ra quyết định một cách độc lập của từng doanh nghiệp. Chỉ có thể quy kết là có sự tồn tại một thoả thuận nếu có thông tin, chứng cứ cho thấy rằng giữa các doanh nghiệp đã có sự gặp gỡ, trao đổi và thống nhất giữa ý chí, hay nói cách khác các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói và hành động chung mà không bị tác động bởi bất cứ lý do nào.
Thứ ba, mục đích của thoả thuận là nhằm hạn chế cạnh tranh [19].