CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG .1 Giới thiệu chung về Khớp Háng Toàn Phần Không Xi Măng .2 Lý do ra đời Khớp háng toàn phần .3 Chọn lựa Khớp háng toàn phần có hoặc không xi măng .4 Tình huống dẫn đến chỉ định sử dụng KHTP không xi măng .5 Các bước thay Khớp háng toàn phần .6 Cấu tạo chung của Khớp háng toàn phần .7 Vai trò và ứng dụng .8 Cơ y sinh liên quan đến việc thiết kế .9 Tình hình nghiên cứu và chế tạo KHTP trên Thế giới.10 Tình hình nghiên cứu và chế tạo KHTP tại Việt Nam. 26 CHƯƠNG II: VẬT LIỆU CHẾ TẠO KHỚP HÁNG TÒAN PHẦN KHÔNG XI MĂNG .2 Thép không gỉ .3 Hợp kim Co-Cr .4 Hợp kim titan .7 Vật liệu cố định khớp. 42 CHƯƠNG III: THIẾT KẾ KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG .1 Xác định dữ liệu 3D của vùng xương xốp bằng phần mềm Mimics .2 Thiết kế khớp háng bằng phần mềm SolidWorks.1 Giới thiệu về SolidWorks.2 Thiết kế chuôi.3 Thiết kế chỏm, chảo kim loại và nhựa. CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH TẢI TRỌNG VÀ CÁC VẤN ĐỀ HƯ HỎNG TÁC ĐỘNG LKÊN KHỚP TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG .2 Kiểm tra bền cho chuôi khớp tòan phần không xi măng .1Xác định lực tác dụng lên chuới khớp háng toàn phần không xi măng .2 Kiểm tra bền cho chuôi khớp bằng phần mềm Hyperworks .1 Chia lưới cho chuôi khớp .2 Lấy dữ liệu lực tác động lên khớp.3 Kiểm tra bền cho chuôi khớp.
84 CHƯƠNG V: GIA CÔNG KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG .1 Khảo sát những công nghệ chế tạo khớp háng nhân tạo .1 Quy trình chế tạo chuôi khớp .2 Quy trình chế tạo chỏm nhỏ và chỏm lớn .3 Qui trình chế tạo chén nhựa UHMWPE .4 Các phương pháp tạo bề mặt xốp .2 Mô phỏng gia công chuôi khớp và chỏm nhỏ.1 Mô phỏng gia công chuôi khớp làm bằng Ti6Al4V .2 Mô phỏng gia công chỏm nhỏ bằng Ti6Al4V .3 Gia công chuôi khớp của Khớp háng không xi măng. 123 CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN. 123 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 125 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.
Trần Nguyên Duy Phương CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỚP HÁNG TOÀN PHẦN KHÔNG XI MĂNG 1. Tổng quan về khớp háng toàn phần không xi măng 1.1 Giới thiệu chung về khớp háng toàn phần không xi măng. Khớp háng toàn phần là phẫu thuật cắt bỏ chỏm cố xương đùi, sụn và một phần xương dưới sụn của ổ chảo thay vào đó là khớp háng nhân tạo nhằm phục hồi chức năng vốn có của khớp. Khớp háng toàn phần không chỉ thay thế các phần khớp hư hỏng mà còn tăng đúng mức chiều dài cánh tay đòn cơ dang (abductor lever arm), chuyển hướng các lực tác dụng, tái lập cân bằng cơ sinh học để có 1 khớp háng hoàn toàn mới nhằm đảm đương chức năng trong suốt quãng đời còn lại của bệnh nhân.
Thay khớp háng nhân tạo là một phương pháp phẫu thuật để điều trị những bệnh lý khớp háng mà tất cả các phương pháp điều trị khác không đem lại hiệu quả.Thông thường thay khớp háng sẽ giúp giảm đau cho người bệnh, vận động khớp háng sẽ được cải thiện giúp cho người bệnh trở lại sinh hoạt thường ngày. Có nhiều bệnh lý làm tổn thương sụn khớp của chỏm xương đùi và sụn ổ cối như bệnh họai tử chỏm xương đùi, thoái hoá khớp háng, viêm khớp dạng thấp…Trong thời gian đầu của bệnh, đa số chúng ta áp dụng các phương pháp điều trị bảo tồn như thuốc kháng viêm, thuốc giảm đau, giảm sức tì đè lên khớp…. tuỳ theo từng loại bệnh khác nhau.2 Lý do ra đời khớp háng toàn phần. Đứng trước những trường hợp chỏm bị hoại tử do gãy cổ xương đùi, phẫu thuật thay chỏm Moore là giải pháp đem lại khá nhiều chức năng và được chấp nhận rộng rãi.
Tuy nhiên sau một thời gian theo dõi, qua nhiều thử thách phẫu thuật này bộc lộ nhiều nhược điểm hầu như không thể khắc phục được. Vấn đề đầu tiên là biến chứng nội di. Sự cọ xát giữa chỏm Moore bằng kim loại, trơ rất cứng và ổ chảo bằng cấu trúc sinh học xương sụn làm ổ chảo mòn dần; bệnh nhân càng hoạt động và xương càng loãng độ mòn sẽ càng nhanh. Hậu quả khó tránh khỏi là chỏm Moore từ từ làm lủng nền ổ chảo và lọt vào khung chậu.Với những nhược điểm nêu trên, chức năng đem lại từ phẫu thuật thay chỏm Moore không nhiều.
Hơn nữa, bệnh lý khớp háng ngày càng được phát hiện phức tạp hơn. Ngoài gãy cổ xương đùi còn nhiều bệnh lý khác như thoái hóa khớp, viêm đa khớp dạng thấp… Tổn thương không chỉ ở chỏm mà còn ở chảo nữa. Và đặc biệt số bệnh nhân trẻ ngày càng nhiều. Nhằm đáp ứng những tình huống khó khăn nêu trên các chuyên gia thay khớp nhận thấy cần phải thay luôn phần ổ chảo.Còn chỏm Moore nên dành cho các bệnh nhân mà đời sống còn lại dự kiến trong khoảng 10 năm; các bệnh nhân mà các hoạt động hàng ngày không nhiều.Khi hai bộ phận (chỏm đùi và ổ chảo) đều là chất trơ cảm giác đau hầu như HVTH: Trần Tấn Tài 1 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS.
Trần Nguyên Duy Phương không còn, tầm hoạt động khớp nhiều hơn; khớp bền vững hơn và đem lại nhiều chức năng hơn. Đó chính là lý do ra đời của khớp háng toàn phần (KHTP). Bệnh nhân 38 tuổi thay khớp háng toàn phần không xi măng (trước và sau). Khớp háng nhân tạo toàn phần và bán phần: - Khớp háng nhân tạo toàn phần: là phẫu thuật lấy bỏ đi phần chỏm xương đùi và thay bằng chỏm kim loại hay bằng sứ với một chuôi cắm vào trong lòng tủy xương đùi và có thể nạo bỏ phần ổ cối bị hư để đặt vào đấy một chén bằng kim loại bên trong có chứa polyethylene hay bằng sứ.
Khớp háng nhân tạo toàn phần là loại khớp háng có cả phần chuôi (stem) và phần chảo (cup). - Khớp háng nhân tạo bán phần: là loại chỉ có chỏm kim loại bao gồm chỏm Moore là loại có chỏm gắn chặt với chuôi bằng kim loại và cắm vào trong lòng tủy xương đùi, loại này chỏm kim loại sẽ xoay và tiếp xúc trực tiếp với ổ cối khung chậu nên sẽ gây đau làm hạn chế cử động của bệnh nhân. Loại khớp háng nhân tạo bán phần lưỡng cực là loại có chỏm bằng kim loại bên ngoài bao lấy một chỏm nhỏ bên trong, chỏm nhỏ này lại gắn với chuôi để cắm vào trong lòng tủy xương đùi và như vậy chỏm con sẽ quay quanh chỏm lớn làm hạn chế sự cọ sát giữa chỏm lớn với ổ cối xương chậu làm giảm đau cho bệnh nhân. Khớp háng nhân tạo bán phần lưỡng cực.
HVTH: Trần Tấn Tài 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. Trần Nguyên Duy Phương Khớp háng nhân tạo có xi măng hay không có xi măng: - Khớp háng nhân tạo có xi măng: là phương pháp dùng xi măng để gắn cố định khớp vào xương. Vì là khớp háng nhân tạo nên khớp này có tuổi thọ nhất định, trung bình vào khoảng 10 -15 năm. Nguyên nhân hư khớp nhân tạo bao gồm sự mòn của khớp do hai mặt khớp cọ sát vào nhau, do lỏng khớp vì khối xi măng gắn không chặt, do các mảnh vụn rớt ra khi cọ sát gây phản ứng viêm làm lỏng chuôi khớp hay lỏng chén kim loại.
Khớp háng nhân tạo có xi măng. - Khớp háng không có xi măng: Từ việc lỏng chuôi có xi măng, các bác sĩ nghĩ rằng nếu làm loại khớp mà không dùng đến xi măng, đóng khít chặt vào lòng tủy xương đùi và vào ổ cối, khớp có tráng một số phần tử kích thích sự mọc xương vào trong khớp sẽ giữ được khớp nhân tạo lâu hơn. Khớp không có xi măng được phát triển thành nhiều loại nhỏ tuỳ thuộc vào bề mặt tiếp xúc chịu lực của nó là: kim loại - nhựa cao phân tử, sứ - sứ, kim loại – kim loại. Loại khớp này có những ưu điểm nên thường dành cho người trẻ tuổi.
Các loại khớp sứ hay kim loại có độ bào mòn thấp nên thường áp dụng cho người trẻ tuổi và nhu cầu đi lại nhiều. Khớp háng nhân tạo toàn phần không có xi măng HVTH: Trần Tấn Tài 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. Trần Nguyên Duy Phương Đứng trước trường hợp chỏm bị hoại tử do gãy cổ xương đùi, phẫu thuật thay chỏm Moore là giải pháp đem lại khá nhiều chức năng và được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên sau 1 thời gian theo dõi, qua nhiều thử thách, phẫu thuật này bộc lộ nhiều nhược điểm không thể khắc phục được.
Vấn đề đầu tiên là biến chứng nội di (protrusion). Sự cọ xát chỏm Moore bằng kim loại rất cứng và ổ chảo bằng cấu trúc sinh học xương sụn làm chảo mòn dần, bệnh nhân càng hoạt động, xương càng loãng, càng mài mòn nhanh. Hậu quả chỏm Moore từ từ làm lủng nền ổ chảo và lọt vào khung xương chậu. Vấn đề thứ hai là viêm khớp háng vô trùng.
Biến chứng này gây đau dai dẳng, giảm chức năng khớp. Ngoài ra còn có các bệnh lý khác như : thoái hóa khớp, viêm đa khớp dạng thấp….Chỏm Moore chỉ dành cho các bệnh nhân mà đời sống dự kiến trong khoảng 10 năm. - Nhằm đáp ứng những điều kiện khó khăn nêu trên, các bác sỹ nhận thấy rằng cần phải thay luôn phần ổ chảo. Khi giữa hai bộ phận (chỏm và ổ chảo) đều là chất trơ thì cảm giác đau hầu như không còn, tầm hoạt động khớp nhiều hơn, khớp bền vững hơn và đem lại nhiều chức năng hơn.
Đó chính là sự ra đời của khớp háng toàn phần.3 Chọn lựa khớp háng toàn phần có hoặc không có xi măng. Sự lựa chọn sử dụng loại khớp có hay không xi măng có thể được xác định bởi: - Các biến số sơ cấp và thứ cấp của từng người bệnh. - Các biến số bên ngoài. - Nghiên cứu kết quả cuối cùng.
Các biến số sơ cấp là những yếu tố cần xem xét đầu tiên, gồm: a. Tuổi: a) > 70 => có xi măng b) < 60 => không xi măng b. Quãng đời hy vọng còn sống của bệnh nhân: c) < 15 năm => có xi măng d) > 25 năm => không xi măng c. Chất lượng xương, khả năng xương mọc vào khớp nhân tạo: e) Già hơn => có xi măng f) Loãng xương => có xi măng 2.
Các biến số thứ cấp là những yếu tố thứ yếu hơn, được xem xét sau đó, gồm: HVTH: Trần Tấn Tài 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: TS. Trần Nguyên Duy Phương a. Hình dạng ống tủy: theo phân loại của L. Dorr: + Kiểu hình Dorr A => khớp háng toàn phần không xi măng, không có đủ xương xốp để xi măng bám vào.