Chương I TONG QUAN VE KIEN TRÚC NHA VUON THAP TANG (NVTT) VOI THIET KE HIEU QUA NANG LƯỢNG (HQNL) TAI HA NOI 1. Cac khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về nhà vườn thấp tằng + Nhà vườn vùng đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) Khái niệm về nhà vườn được hiểu nôm la là một ngôi nhà nhỏ chỉ khoảng trên đưới 100m2, kiến trúc đơn giản thường chỉ cao 1 tầng với mức đầu tư trung bình và được xây dựng trên một diện tích đất ất lớn từ 1000mẺ đến hàng héc ta chủ yếu để trồng cây ăn quả và chăn nuôi. Ngày nay một bộ phận người dân có điều kiện sống cao tại các thành phố lớn đang có su hướng tự tạo cho mình và gia đình một không gian nghỉ dưỡng ven các thành phố làm nhà vườn vừa là nơi thư giãn và họp mặt bạn bè cuối tuần, vừa là nơi tăng gia sản xuất tự cung tụ cấp nguồn thực phẩm sạch cho gia đình mình với hệ thống chuồng trại chăn nuôi, ao cá và vườn rau sạch được chăm sóc, nuôi trồng theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm bởi các “quản gia” được thuê về trông nom nhà cửa và chăn nuôi , trồng rau cung cấp lên đô thị cho các gia chủ - một mô hình V-A-C (vườn-ao-chuồng) khép kín cung cấp thực phẩm sạch trong bối cảnh mất an toàn thực phẩm trầm trọng hiện nay.
® Nhà vườn Huế Là một khái niệm chỉ một loại vườn cảnh kết hợp giữa kiến trúc nhà ở với vườn cây bao quanh rất độc đáo ở thành phố Huế và chỉ sử dụng cho những khu vườn cổ thường là các phủ đệ của quan lại phong kiến, nhà ở của các thương gia giàu có phần lớn tập trung ở khu vực Kim Long dọc theo sông Hương. Nhà ở đây được xây theo phong cách truyền thốngViệt Nam (thường. là nhà rường Huế) và nằm gọn trong những khu vườn được bé tri hai hòa. Một khu nhà ở Huế chỉ được gọi là nhà vườn khi đáp ứng được ít nhất một số tiêu chí cụ thể như: diện tích đất vườn, mật độ cây xanh trong khuôn viên, sự da dạng phong phú của các chủng loại cây, tính phù hợp của hình thức kiến trúc với không gian cây xanh xung quanh và yếu tố lịch sử.
Tóm lại, Nhà vườn thấp tầng là một khái niệm chỉ một quần thể kiến trúc nhà ở với vườn cảnh bao quanh, trong đó hệ số xây dựng thấp (20-40%), nhà chính chỉ 1-2 ting, chi phi xây dựng không cao. Phong cách kiến trúc nhà vườn sử dụng nhiều cây xanh đan xen đề tạo cảm giác xanh mát và gần gũi với thiên nhiên cho ngôi nhà. Sự kết hợp hài hòa giữa nhà và vườn tạo ra không gian kiến trúc trong thiết kế kiến trúc nhà vườn độc đáo cho người sử dụng. Việc quy hoạch, chọn lựa vị trí đặt nhà phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên như hướng gió và hướng nắng.
Khu vực có sông, núi quanh co luôn là những điểm lý tưởng thuận lợi cho môi trường sinh hoạt. Khu vườn và ngôi nhà hòa hợp sẽ tôn những yếu tố tự nhiên sẵn có của khu đất địa phương. Nhà làm điểm nhấn trong vườn, vườn tô điểm cho nhà. Những cây cối có sẵn trong khu vườn được tận dụng để tạo nên vẻ đẹp tự nhiên cho không gian 1.
Khái niệm về thiết ké kién tric HONL Năng lượng là dạng vật chất có khả năng sinh công, bao gồm nguồn năng lượng sơ cấp: than, dầu, khí đốt và nguồn năng lượng thứ cấp là nhiệt năng, điện năng được sinh ra thông qua quá trình chuyển hoá năng lượng sơ cấp. [2] Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là sử dụng năng lượng một cách hợp lý, nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng, giảm chỉ phí năng lượng cho hoạt động của các phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng mà vẫn đảm bảo nhu cầu năng lượng cần thiết cho các quá trình sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt. [2] ến trúc hiệu quả năng lượng, là một thuật ngữ mô tả phương pháp thiết kế chú trọng đến việc nâng cao tính hiệu quả và điều tiết nhu cầu sử dụng năng lượng của công trình, bao gồm tập hợp các giải pháp kiến trúc và kĩ thuật đáp ứng tốt nhất các mục tiêu giảm thiểu tối đa chi phi năng lượng để cung cắp/đảm bảo tiêu khí hậu trong các phòng bố trí trong tòa nhà. Đây là một bộ phận vô cùng quan trọng của Kiến trúc bền vững.
khái niệm Kiến trúc tiết kiệm năng lượng: bao gồm từng giải pháp làm giảm. chỉ phí năng lượng cung cấp vi/tiêu khí hậu cho các phòng bồ trí trong nhà. Theo một số thống kê, năng lượng mà một công trình tiêu thụ trong quá trình vận hành chiếm đến 80% - 90% tổng mức đầu tư cho công trình đó. 'Vòng đời trung bình của các tòa nhà là từ 30 = 50 năm, và một công trình hiệu quả năng lượng có thể tiết kiệm đến 30% mức sử dụng năng lượng so với một công trình thông thường, thông qua đó giảm thiểu chỉ phí đầu tư và tác động tiêu cực đến môi trường bởi việc sản xuất điện năng [2] Trong kiến trúc hiệu quả năng lượng, kiến trúc sư thông qua các giải pháp thiết kế và kỹ thuật để làm giảm nhu cầu sử dụng năng lượng, đồng thời làm tăng khả năng tự đáp ứng nhu cầu năng lượng của công trình.
Tổng quan chung về kiến trúc nhà ở với thiết kế HỌNL trên và ở Việt Nam 1. Sơ lược về tình hình phát triển kiến trúc nhà ở với thiết kế HỌNL trên thế giới + Khả năng thích ứng với tự nhiên của kiến trúc dân gian trước cách mạng công nghiệp “Theo nhiều góc độ khác nhau, một trong những nhu cầu căn bản trong nỗ lực của con người trong việc tao ra các không gian sống và làm việc là một môi trường nhân tạo “tiện nghỉ thoải mái”. Ở mức độ đơn gản, đó là sự che chớ cho con người trước những tác động bắt lợi của nắng, mưa, gió, độ ẩm và nhiệt độ cũng như đảm bảo điều kiện tiện nghỉ nhiệt Thời cận dai, chúng ta thường coi việc con người định cư trong lòng đất hay trong hang đá ở thời kì tiền sử là biểu hiện của sự hạn chế về khả năng. phát huy trí tuệ và làm chủ thiên nhiên.
[17]Với quan điểm đó, vô hình chung, việc tạo dựng các công trình kiến trúc độc lập không phụ thuộc vào xung quanh được nhìn nhận như là thành quả của sự phát triển. Hơn nữa, có thể thấy những hình thức định cư trong hang đá đã biết tận dụng lợi thế về nhiệt của khối tích đất, đá bao quanh môi trường định cư để tạo nên môi trường tiện nghỉ nhiệt với sự can thiệp tối thiểu của con người. Sự chênh lệch về nhiệt độ của lòng đất so với không khí bên ngoài đã giúp duy trì điều kiện nhiệt độ thích hợp mát về mùa hề và ấm về mùa đông cho không gian sử dụng của con người. Ngôi làng Mesa Verde ở Mexico (hình 1-1) là một ví dụ sinh động cho cách ứng xử này.
Toàn cảnh ngôi làng Mesa Verde 6 Mexico Do thời kì đầu, con người chưa đủ kiến thức khoa học để phân tích và cho phép đưa ra những lựa chọn như cách làm hiện nay, nhưng có thể thấy với kinh nghiệm và sự cảm nhận được thúc đầy bới những nhu cầu rất căn bản, tô tiên chúng ta đã biết tô chức cư trú mà không cần huy động máy móc, năng lượng để vận hành cuộc sống. Con người liên hệ với tự nhiên một cách bình đẳng, trong đó chủ yếu là tận dụng và phát huy những lợi thế mà tự nhiên cung cấp. Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định rằng, kiến trúc thời cô đại mỗi vùng miền đều chứa đựng những bài học quý giá từ quan niệm, thái độ ứng xử cho đến các giải pháp cụ thể đối với điều kiện môi trường tự nhiên đặc thù © Van dé sie dung nang lượng trong thời kì cách mạng công nghiệp và sau cách mạng công nghiệp của các công trình xây dựng Sự bùng nỗ công nghiệp nửa cuối thế ki XVII bắt đầu từ nước Anh đã làm thay đổi cơ bản mọi mặt của đời sống con người cũng như mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, đặc biệt là những vấn dé đặc thù của 10 đô thị. Từ cuối thế ki XIX, “sự chấp nhận một cách thẳng thắn vật liệu sản xuất hàng loạt và sự hạn chế cứng nhắc của nguồn tài chính, trong trường hợp.
này đã khắc phục đắc lực kết quả kiến trúc”. Các vật liệu chế tạo trong nhà máy đã và đang dần dần thay thể các vật liệu truyền thống trong các công. trình kiến trúc. Bên cạnh đó, ý nghĩa và giá trị truyền tải thông tin của tác phẩm kiến trúc bắt đầu bị nghỉ ngờ bởi một “thức kiến trúc mới mẻ”.
[16] Sự bùng nỗ của công nghiệp cũng làm thay đổi cơ bản diện mạo của các khu vực lân cận do các lượng chất thải và khí thải. Đối với công nghệ và các sản phẩm của công nghiệp hiện đại cũng có những vấn đề tương tự. Có thể nhận thấy, những hoạt động của con người ở giai đoạn cận đại này đã gây những tác động bắt lợi đến hệ thống sinh thái của tự nhiên với quy mô và cấp độ chưa từng có trong lịch sử. Hơn nữa, hậu quả của các họat động ấy còn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏa của con người.
'Tuy nhiên, vào những năm 1930, mặc dù đã có ý kiến của một số nhà phê bình nhưng giới quy hoạch kiến trúc vẫn chưa có nhiều sự chú ý đến môi trường. Phải đến năm 1962, cuốn sách Sự vùng lên lặng lề (Silent Spring) của Rachel Carson mới chính thức phát động sự quan tâm rộng rãi của công chúng tới vấn đề sinh thái trong thế giới hiện đại. [20] Trước những năm 1970, các trào lưu kiến trúc tập trung quan tâm chủ yếu đến các vấn đề của ngôn ngữ biêu hiện, hình khối và kết cấu. Nỗi trội là “Phong cách quốc tế”, Chủ nghĩa công năng, chủ nghĩa duy lí của những năm 1920-1965 với câu nói nỗi tiếng của Le Corbusier “Nhà là cái máy để ở” dé nhấn mạnh tính chặt chẽ và chính xác và F.
Wright đề xuất một “kiến trúc hữu cơ” từ trong ra ngoài, nắm bắt toàn bộ tiềm năng đề kiến trúc thực sự trở.