Chương 1 Tổng quan Nghiên cứu về DoS dựa trên những những nghiên cứu về bản chất của giao thức TCP/IP. Dựa trên họ giao thức TCP/IP, giao thức không xác thực người tham gia truyền tin, có thể nói hệ thống Internet là một hệ thống mở, trong đó mọi người hoạt động đều ngang hàng nhau, không bị kiểm soát. Lợi dụng vấn đề về tính định danh lỏng lẻo của hệ thống Internet, hình thức tấn công từ chối dịch vụ - Denial of Service , sau đây gọi tắt là DoS, đã được sử dụng phổ biến để: Tạo lập danh tiếng với những kẻ thiếu hiểu biết Công cụ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ thương mại, truyền tin. Công cụ tống tiến của những tội phạm mạng 1.1 Hệ thống mạng Internet Bắt đầu từ hệ thống mạng ARPAnet của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, với mục đích xây dựng một mạng lưới liên lạc tin cậy, hoạt động được ngay cả khi một phần hệ thống đã bị phá hủy.
Vào cuối năm 1966, những nền tảng đầu tiên của hệ thống mạng đã được xây dựng [36]. Giao thức đầu tiên được sử dụng để truyền tin trong hệ thống ARPAnet là 1822[18], quy định phương thức truyên tin giữa một máy tính tới một IMP. IMP là khái niệm về một máy tính có chức năng xử lý các bản tin truyền trong hệ thống mạng. Mỗi IMP tại một site có chức năng lưu trữ và chuyển tiếp ( store & forward) gói tin và được kết nối với nhau thông qua các modem, đường truyền leased line, tốc độ khoảng 50kb/s.
Đến năm 1970, mạng ARPAnet đã kết nối được 9 điểm và phát triển nhanh chóng những năm tiếp theo. Đến năm 1981, đã có 212 host kết nối với tốc độ 2 ngày có một host mới kết nối vào mạng. Đến năm 1984, mạng máy tính của bộ Quốc phòng Mỹ tách khỏi mạng ARPAnet và gọi là mạng MILNET. Sau một thời gian hoạt động, do một số lý do kỹ thuật và chính trị, kế hoạch sử dụng mạng ARPANET không thu được kết quả như mong muốn.
Vì vậy Hội đồng khoa học Quốc gia Mỹ đã quyết định xây dựng một mạng riêng NSFNET liên kết z 11 các trung tâm tính toán lớn và các trường đại học vào năm 1986 sử dụng giao thức TCP/IP. Mạng này phát triển hết sức nhanh chóng, không ngừng được nâng cấp và mở rộng liên kết tới hàng loạt các doanh nghiệp, các cơ sở nghiên cứu và đào tạo của nhiều nước khác nhau. Cũng từ đó thuật ngữ INTERNET ra đời. Dần dần kỹ thuật xây dựng mạng ARPAnet đã được thừa nhận bởi tổ chức NSF, kỹ thuật này được sử dụng để dựng mạng lớn hơn với mục đích liên kết các trung tâm nghiên cứu lớn của nước Mỹ.
Người ta đã nối các siêu máy tính thuộc các vùng khác nhau bằng đường điện thoại có tốc độ cao. Tiếp theo là sự mở rộng mạng này đến các trường đại học. Ngày càng có nhiều người nhận ra lợi ích của hệ thống mạng trên, người ta dùng để trao đổi thông tin giữa các vùng với khoảng cách ngày càng xa. Vào đầu những năm 1990 người ta bắt đầu mở rộng hệ thống mạng sang lĩnh vực thương mại tạo thành nhóm CIX.
Có thể nói Internet thật sự hình thành từ đây. Nhưng chỉ đến khi Tim Berners-Lee phát triển HTML, HTTP tại CERN năm 1991, thì Internet mới thực sự phát triển “bùng nổ”. Với công nghệ HTML, các trang web được tạo ra một cách nhanh chóng và tiện lợi cho người sử dụng truy cập, đọc thông tin. Năm 1993, trung tâm NCSA tại đại học Illinois đưa ra trình duyệt web Mosaic 1.0, nền tảng cho các trình duyệt web về sau.
Và bắt đầu từ thời điểm đó, mạng Internet đã phát triển nhanh chóng, lan rộng khắp toàn cầu. Tới tháng 1 năm 2006, đã có hơn một tỷ người sử dụng Internet [33], và tại Việt Nam là hơn 5 triệu người sử dụng. Ngày nay, với sự phát triển của thương mại điện tử, khó có thể tách rời sự tồn tại của Internet với xã hội loài người. Thống kê cho thấy, trong năm 2006, tổng giá trị bán hàng qua mạng sẽ đạt con số 200 tỷ USD [34].
Kinh doanh qua mạng Internet, quảng cáo qua Intenret, cung cấp thông tin qua Internet đã là những khái niệm kinh điển. Trang web chính là bộ mặt của công ty, là nơi giao dịch mua bán, là nơi tiếp đón người dùng, nơi giao lưu, kết bạn. Những mô hình kinh doanh thành công như ebay, yahoo, google ngày nay đã và đang liên tục phát triển.2 Giao thức TCP/IP Họ giao thức TCP/IP cho phép mọi hệ thống máy tính giao tiếp với nhau mà không quan tâm đến quy mô hệ thống, nhà sản xuất phần cứng, hệ điều hành được cài đặt. Theo định nghĩa của giao thức, TCP/IP thực sự là một hệ thống mở [22].
Nó cho phép triển khai thêm các thành phần với một chi phí thực sự được giảm thiểu và thời gian rút ngắn đáng kể. Phần này giới thiệu một số thông tin cơ bản về họ giao thức TCP/IP, nhấn mạnh vào những cơ chế hoạt động để minh họa cho chương tiếp theo.1 Khái niệm về phân lớp Các giao thức trên mạng được phát triển theo những lớp giao thức – layer. Mỗi lớp sẽ có nhiệm vụ xử lý một mức độ giao tiếp khác nhau. Họ giao thức TCP/IP được phân chia theo 4 lớp ( để phù hợp với các tài liệu tiếng Anh, giữ nguyên tên gọi của các lớp).
Mỗi lớp sẽ đảm nhận một chức năng riêng rẽ. TÊN LỚP ỨNG DỤNG Application Telnet, FTP, SMTP. Transport TCP,UDP Network IP,ICMP, IGMP Link Các trình điều khiển thiết bị và cổng kết nối Bảng 1 Các lớp trong giao thức TCP/IP i. Lớp Kết nối – Link: hay còn gọi data-link(liên kết dữ liệu), bao gồm hệ thống các trình điều khiển thiết bị được cài đặt kèm với hệ điều hành và các cổng kết nối mạng có trên hệ thống.
Mọi chức năng xử lý phần cứng được thiết lập tại lớp này. Lớp mạng – network: hay còn gọi là lớp internet xử lý việc di chuyển của các gói tin trong toàn mạng. Một số chức năng quan trọng được thực hiện tại lớp này: định tuyến (routing), thông báo lỗi (ICMP). Lớp này có 3 giao thức cơ bản là IP, ICMP và IGMP.
Lớp giao vận – transport: điều khiển luồng dữ liệu giữa 2 host (máy tính). Có 2 giao thức xử lý tương đối khác nhau là TCP và UDP (User Datagram Protocol). Với giao thức TCP các luồng dữ liệu được phân chia hoặc gộp vào tạo thành các “bó” có kích thước phù hợp với lớp mạng ở dưới. Ngoài ra, TCP có nhiệu vụ thông báo xác nhận cho các gói tin đã đến, thiết lập thời gian chờ (timeout) cho các gói tin gửi đi .v Với các phiên truyền tin sử dụng TCP đô tin cậy của phiên truyền tin đã được đảm bảo nên tầng Ứng dụng – Application có thể không cần quan tâm đến việc này.
Trái lại, với giao thức UDP, phiên truyền tin được thực hiện đơn giản hơn. Phía gửi chi gửi một loạt các gói dữ liệu – datagrams mà không “quan tâm” đến việc liệu gói tin có thể đến được phía nhận hay không. Tầng Application sẽ phải xử lý tính tin cậy của phiên truyền tin. Lớp ứng dụng – Application : Xử lý chi tiết các phiên làm việc theo từng ứng dụng.
Có rất nhiều ứng dụng khác nhau được xây dựng dựa trên những giao thức tầng Ứng dụng như: * Telnet * FTP *WEB – HTTP * SMTP – email *DNS – Tên miền Hình dưới đây mô tả phiên truyền tin FTP giữa hai host trong cùng một mạng LAN– Ethernet : z 14 FTP Protocol Tiến trình mức Xử lý mức ứng Application FTP Client FTP Server nguời dùng dụng TCP Protocol Transport TCP TCP Tiến trình mức Xử lý các vấn hệ thống đề về truyền tin IP Protocol Network IP IP Ethernet Ethernet Protocol Ethernet Link driver driver Ethernet Hình 1 Phiên truyền tin giữa hai node mạng Giả thiết có 2 máy tính trong mạng LAN, một máy đóng vài trò là máy chủ FTP – FTP server. Máy còn lại là FTP Client. Mô hình làm việc client-server là mô hình phổ biến, áp dụng cho phần lớn các ứng dụng trên mạng. Trong mô hình này, máy server sẽ cung cấp dịch vụ cho máy client truy cập vào sử dụng.
Mỗi lớp sẽ có một hoặc nhiều giao thức phục vụ cho việc kết nối truyền tin giữa lớp tương ứng của máy trạm với máy đích. Theo hình trên, lớp Application thường là các tiến trình của người dùng. 3 lớp ở dưới thường được cài đặt vào trong hệ thống – hệ điều hành. Tại lớp này, các hoạt động cơ bản của ứng dụng được xử lý về mặt logic.
Không hề có sự liên quan đến việc lưu chuyển dữ liệu qua mạng tại đây. Các lớp ở dưới thì lại ngược lại, không hề có liên quan đến các xử lý logic của ứng dụng mà chỉ quan tâm đến việc xử lý lưu chuyển các luồng dữ liệu qua mạng. Ngoài việc xử lý các luồng thông tin giữa 2 host như mô tả trên, lớp Mạng còn có một nhiệm vụ khác: liên kết các hệ thống mạng khác nhau. Internet là một liên kết lớn gồm nhiều mạng khác nhau.
Các vùng mạng được kết nối với nhau thông qua z 15 các thiết bị định tuyến – Router. Các router thường là những thiết bị được sản xuất từ những phần cứng chuyên dụng. Các thiết bị này sẽ đảm nhận việc kết nối giữa các loại mạng khác nhau : Ethernet, token ring, point-to-point. Thuật ngữ router trong tài liệu này là chỉ đến các thiết bị định tuyến cho mạng IP như trên.
Ngoài ra, còn có một thuật ngữ khác thường được sử dụng là Gateway. Nhưng hiện nay, khái niệm gateway đã được chuyển sang chỉ các phần mềm ứng dụng có nhiệm vụ kết nối 2 vùng giao thức khác nhau : PSTN-SIP gateway, Voice-data gateway. Hình dưới đây mô tả kết nối giữa hai mạng Ethernet và Token ring bởi một router. Sau khi có kết nối, mọi host trong mạng Ethernet đều có thể kết nối truyền tin tới các host trong mạng Token-Ring FTP Protocol FTP Client FTP Server TCP Protocol TCP TCP Router IP Protocol IP Protocol IP IP IP Ethernet Ethernet Ethernet Token Ring Token Ring Token Ring driver Protocol driver driver Protocol driver Ethernet Token Ring Hình 2 Kết nối giữa hai hệ thống mạng sử dụng Router Trong TCP/IP, lớp Network hoạt động theo cơ chế không tin cậy (best efford, unreliable).
Các gói tin truyền qua lớp Network sẽ được phát chuyển tiếp tục nhưng không được đảm bảo là sẽ đến đích. Nhiệm vụ điều khiển luồng, kiểm soát lỗi sẽ z 16 được giao cho lớp TCP, như đã nói ở trên.