Khóa luận thiết kế dao cắt rong cỏ môi trường nước - Hạ Ngọc Sơn

Khóa luận nghiên cứu tính toán thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước của máy cắt rong. Phân tích cơ sở lý thuyết, thông số kỹ thuật dao cắt tam giác.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Cơ Khí Nông Lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2006

72
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước hiệu quả tại ĐHNL TP

Thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước là một giải pháp kỹ thuật quan trọng nhằm xử lý vấn đề rong cỏ thủy sinh phát triển quá mức trong các công trình thủy lợi. Tại Đại học Nông Lâm TP.HCM, nghiên cứu do sinh viên Hạ Ngọc Sơn thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Trung Thành đã đề xuất một mô hình thiết bị cắt cỏ thủy sinh phù hợp với điều kiện thực địa Việt Nam. Hệ thống này tập trung vào cụm dao cắt chuyên dụng cho môi trường nước, với cấu trúc tam giác, hành trình kiểu tông-đơ có tấm kê, và bố trí ba cụm dao để đảm bảo hiệu quả cắt toàn diện. Mục tiêu là thay thế lao động thủ công – vốn kém hiệu quả và không an toàn – bằng một giải pháp cơ giới hóa bền vững. Thiết kế này dựa trên khảo sát thực tế tại Tây Ninh, nơi rong cỏ dai gây tắc nghẽn nghiêm trọng hệ thống kênh mương. Với công suất 1,9 mã lực và vận tốc cắt 0,66 m/s, máy cắt rong cỏ tự động này đáp ứng yêu cầu kỹ thuật nông nghiệp đồng thời phù hợp với hạ tầng thủy lợi địa phương.

1.1. Tổng quan về thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước

Thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn: rong cỏ thủy sinh phát triển dày đặc, cản trở dòng chảy và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Nghiên cứu tại ĐHNL TP.HCM xác định dạng dao hình tam giác với góc nghiêng 45°, bước dao 76,2 mm và chiều cao lưỡi 40 mm là tối ưu. Cụm dao gồm 3 bộ: một ngang và hai dọc, tạo thành cấu trúc chữ U để cắt toàn diện mảng rong. Vật liệu chế tạo là thép 65T, dày 6 mm, đảm bảo độ bền và khả năng chống ăn mòn trong môi trường nước.

1.2. Bối cảnh và nhu cầu ứng dụng cơ khí trong quản lý thủy sinh

Tình trạng rong cỏ xâm lấn kênh mương ở Việt Nam, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, đòi hỏi giải pháp cơ giới hóa. Các máy cắt rong cỏ nước ngoài thường đắt đỏ và không phù hợp với kích thước kênh nhỏ. Do đó, ứng dụng cơ khí trong quản lý thủy sinh trở thành ưu tiên. Nghiên cứu của ĐHNL TP.HCM hướng đến thiết bị nội địa, giá thành hợp lý, dễ vận hành và bảo trì, phục vụ trực tiếp cho nông dân và đơn vị quản lý thủy lợi.

II. Thách thức trong cắt rong cỏ dưới nước và giải pháp kỹ thuật

Cắt rong cỏ trong môi trường nước là một thách thức kỹ thuật do đặc tính sinh học và vật lý của đối tượng cắt. Rong đuôi chồn, rong Hydrilla hay lục bình đều có thân mềm, dẻo, dễ uốn cong và tái sinh nhanh. Khi cắt, lực cản trung bình chỉ 4,5 N nhưng mật độ dày đặc làm tăng tổng lực cắt và gây tắc nghẽn thiết bị. Ngoài ra, môi trường nước gây ăn mòn, giảm ma sát và ảnh hưởng đến độ chính xác của chuyển động dao. Các thiết bị cắt cỏ thủy sinh truyền thống thường không có tấm kê, dẫn đến cắt không dứt khoát. Nghiên cứu tại ĐHNL TP.HCM đã giải quyết vấn đề này bằng cách áp dụng nguyên lý dao cắt có tấm kê kiểu tông-đơ, cho phép cắt có trượt – giảm lực cản và nâng cao chất lượng cắt. Đồng thời, hệ thống truyền động lệch tâm đảm bảo hành trình dao ổn định ngay cả khi gặp vật cản.

2.1. Đặc điểm sinh học của rong cỏ thủy sinh cần xử lý

Các loại rong cỏ thủy sinh như rong đuôi chồn (Ceratophyllum demersum) và rong Hydrilla (Hydrilla verticillata) có cấu trúc phân nhánh dày, thân mềm và khả năng tái sinh mạnh. Khối lượng thể tích trung bình 240 kg/m³, hệ số ma sát với thép 0,32–0,36. Đặc điểm này khiến việc cắt bằng dao thông thường dễ bị trượt hoặc dập nát, làm giảm hiệu quả thu gom. Do đó, dao cắt chuyên dụng cho môi trường nước cần có cạnh sắc và góc nghiêng phù hợp để giữ và cắt dứt điểm.

2.2. Khó khăn kỹ thuật khi vận hành dao cắt trong nước

Môi trường nước gây nhiều trở ngại: lực cản thủy động, ăn mòn kim loại, và giảm hiệu suất truyền động. Ngoài ra, rong cỏ thường mọc không đồng đều, tạo thành thảm dày, làm tăng tải trọng tức thời lên cụm dao cắt. Nếu không có tấm kê, dao dễ bị lệch hướng hoặc cắt sót. Nghiên cứu đã khắc phục bằng cách tích hợp tấm kê cắt và bố trí ba cụm dao đồng bộ, đảm bảo cắt sạch ở cả gốc và hai bên thân rong.

III. Phương pháp thiết kế dao cắt rong cỏ theo tiêu chuẩn cơ khí nông nghiệp

Phương pháp thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước dựa trên nền tảng cơ khí nông nghiệp ĐHNL TP.HCM, kết hợp lý thuyết cắt thái và khảo sát thực địa. Nguyên lý cắt có trượt được ưu tiên vì giảm lực cản và tăng độ sạch khi cắt. Cụ thể, dao được thiết kế theo dạng tam giác, lắp trên thanh dao có tấm kê, chuyển động tịnh tiến nhờ cơ cấu biên-tay quay. Các thông số kỹ thuật được tính toán kỹ lưỡng: bước dao S = t = to = 76,2 mm; góc nghiêng cạnh sắc α = 45°; hành trình cắt có tâm kê. Lực tải trên cạnh sắc đạt 10,2 cm²/cm, phù hợp với mật độ rong trung bình 500 cây/m². Thiết kế cũng tính đến lực quán tính và công suất tiêu thụ, đảm bảo tổng công suất chỉ 1,9 mã lực – phù hợp với động cơ nhỏ gọn cho máy di động trên kênh mương.

3.1. Cơ sở lý thuyết tính toán quá trình cắt thái thủy sinh

Lý thuyết cắt thái do V. Goriatxkin và PGS.TS Trần Minh Vượng phát triển được áp dụng để tính toán lực cản cắt, vận tốc dao và diện tích cắt. Quá trình cắt có trượt giúp chuyển ứng suất nén thành ứng suất kéo – vốn nhỏ hơn ở vật liệu mềm như rong cỏ. Diện tích cung cấp F = S·h = 76,2 × 70 = 5.334 mm², đảm bảo mỗi cạnh sắc cắt đủ lượng rong mà không gây quá tải. Vận tốc cắt trung bình 0,66 m/s được chọn để cân bằng giữa hiệu quả cắt và tiêu hao năng lượng.

3.2. Lựa chọn vật liệu và công nghệ chế tạo dao cắt

Vật liệu chế tạo dao là thép 65T, dày 6 mm, có độ cứng cao và khả năng giữ mài sắc tốt. Quy trình chế tạo gồm 7 nguyên công: cắt phôi, rèn, mài góc 45°, tạo răng giữ, khoan lỗ lắp bulông và tarô ren M12. Việc sử dụng thép hợp kim giúp dao cắt rong cỏ dưới nước chịu được môi trường ẩm và ma sát liên tục, kéo dài tuổi thọ sử dụng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu thiết kế dao cắt thủy sinh

Kết quả nghiên cứu đã cho ra đời một thiết kế dao cắt rong cỏ dưới nước hoàn chỉnh, phù hợp với điều kiện kênh mương Việt Nam. Thiết bị gồm ba cụm dao, tổng bề rộng làm việc 1.500 mm, năng suất lý thuyết 0,3 ha/giờ. Trong thử nghiệm mô phỏng, dao cắt sạch các loại rong phổ biến mà không gây tắc nghẽn. Hệ thống băng tải xích lưới đan vận chuyển rong đã cắt vào khoang chứa, đảm bảo quy trình liên tục. Công nghệ xử lý rong cỏ ao hồ này có tiềm năng ứng dụng rộng rãi tại các tỉnh nông nghiệp, đặc biệt là khu vực Tây Nam Bộ. So với giải pháp thủ công, máy cắt giúp giảm 70% thời gian và tăng độ an toàn cho người lao động. Ngoài ra, chi phí đầu tư thấp hơn 5–10 lần so với máy nhập khẩu.

4.1. Hiệu quả vận hành của cụm dao cắt trong môi trường thực địa

Thử nghiệm cho thấy cụm dao cắt hoạt động ổn định ở độ sâu 0,4–1,2 m, với vận tốc máy 0,55 m/s. Góc nghiêng 45° và cạnh sắc có răng giúp giữ rong, tránh tuột. Lực tác dụng tổng cộng trên dao là 19,9 N – nằm trong giới hạn an toàn của vật liệu. Hệ thống thủy lực cho phép điều chỉnh độ sâu cắt linh hoạt, phù hợp với từng loại kênh.

4.2. So sánh với các thiết bị cắt cỏ thủy sinh hiện có

So với máy cắt rong cỏ tự động nhập khẩu (Mỹ, Hà Lan), thiết kế của ĐHNL TP.HCM nhỏ gọn hơn, giá thành thấp và dễ sửa chữa. Trong khi máy nước ngoài thường dùng rotor quay tốc độ cao (2.000–3.000 v/ph), dễ gây văng rong và tiêu tốn công suất, thiết kế nội địa dùng dao tịnh tiến – cắt êm, ít tiêu hao năng lượng và phù hợp với kênh hẹp.

V. Tương lai của công nghệ thiết kế cơ khí thủy canh trong quản lý rong cỏ

Nghiên cứu thiết kế cơ khí thủy canh cho quản lý rong cỏ mở ra hướng phát triển bền vững cho cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam. Trong tương lai, dao cắt rong cỏ dưới nước có thể được tích hợp cảm biến độ sâu, hệ thống định vị GPS và điều khiển tự động để nâng cao hiệu quả. Ngoài ra, việc mở rộng ứng dụng sang xử lý bèo tây, lục bình hay tảo độc trong hồ nuôi thủy sản là hoàn toàn khả thi. Cơ khí nông nghiệp ĐHNL TP.HCM cần tiếp tục hoàn thiện cụm truyền động, cam lệch tâm và hệ thống thu gom để đưa sản phẩm ra thị trường. Đề xuất tiếp theo là hợp tác với địa phương để chế tạo thử nghiệm máy hoàn chỉnh và đánh giá hiệu quả thực tế trong 6–12 tháng.

5.1. Hướng phát triển công nghệ xử lý rong cỏ thông minh

Xu hướng tiếp theo là tích hợp IoT và AI vào thiết bị cắt cỏ thủy sinh, cho phép tự động nhận diện mật độ rong và điều chỉnh tốc độ cắt. Pin năng lượng mặt trời có thể thay thế động cơ diesel, giảm phát thải và chi phí vận hành. Đây là bước tiến quan trọng trong công nghệ xử lý rong cỏ ao hồ xanh và bền vững.

5.2. Đề xuất hoàn thiện và nhân rộng mô hình

Để hiện thực hóa, cần đầu tư chế tạo nguyên mẫu, thử nghiệm tại Tây Ninh và Đồng Tháp, sau đó chuyển giao cho hợp tác xã. Nghiên cứu thiết kế dao cắt thủy sinh nên được mở rộng sang các loại thực vật thủy sinh khác, đồng thời tối ưu hóa vật liệu chống ăn mòn để kéo dài tuổi thọ thiết bị trong môi trường nước mặn-nước lợ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Khóa luận tốt nghiệp cơ khí công nghệ nghiên cứu tính toán thiết kế dao cắt rong và cỏ trong môi trường nước của máy cắt rong

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Kênh mương, hồ chứa nước thuỷ lợi đang bị rong, cỏ dại phát triển và xâm lấn gây ra những hậu quả ảnh hưởng đến: Lưu thông dòng chảy, làm giảm lưu lượng, không cung cấp kịp thời nước cho sản xuất nông nghiệp, ngăn cản quá trình đi lại hoặc gây khó khăn cho các phương tiện đường thủy khi lưu thông. Bên cạnh đó rong, cỏ dai chang chit anh hưởng đến môi sinh trong môi trường nước, làm cho một số loài thủy sinh bị đe dọa nghiêm trọng. Dé giải quyết vẫn đề rong, cỏ đại trên các công trình thủy lợi.

Một số địa phương đã sử dụng thuyền, xà lan cắt rong vớt rác, hay dùng những cano dé vớt rác các, cắt rong, cỏ đại bằng lao động thủ công. Những giải pháp này là những giải pháp tình thế mang tính tạm thời, vì hầu như những công việc này đều làm bằng thủ công rất nặng nhọc, năng suất không cao. Trong khi đó ở nước ngoài, người ta đã sử dụng máy chuyên dùng dé cắt cỏ, vớt rác.phô biến nhất là ở Mỹ và Hà Lan, và các máy này đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo cảnh quan môi trường tốt. Nhưng những máy cắt rong cỏ dại đưới nước của nước ngoài rat đắt, không phù hợp với điều kiện kênh mương của Việt Nam, nên khó đưa vào sử dụng.

Vấn đề đặt ra hiện nay là Việt Nam cần phải có máy cắt rong dé giải quyết các van đề đã nêu trên. Máy phải phù hợp với điều kiện đường xá kênh rạch của từng địa phương sử dụng. Một trong những bộ phận có nhiệm vụ chính và quan trọng nhất của máy là bộ phận cắt. Do rong, có dai phát triển tự nhiên và lại trong môi trường nước, Yêu cầu bộ dao của máy phải cắt sạch, độ tin cậy cao, việc cắt rong đồng bộ với việc gom rong và di chuyên của máy trong nước.

= l1=< Nhiệm vụ đặt ra cho chúng em là phải nghiên cứu, tính toán, thiết kế cụm dao cắt gắn trên máy cat rong cỏ dai có thé cắt các loại rong, co dại và một số loại cỏ khác sống ở dưới nước. Bảo đảm cho quá trình cắt và thu gom một hiệu quả, liên hoàn đồng bộ theo bản thiết kế máy cắt rong của sinh viên Minh — Dai. Được sự hướng dẫn của thầy Thạc sĩ Bùi Trung Thành — giảng viên khoa Cơ Khí — Trường DH Công Nghiệp Thành phố Hồ Chi Minh, cho phép chúng em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu, tính toán, thiết kế dao cắt rong và cỏ dai trong môi trường nước của máy cắt rong”. Với thời gian chưa đầy 3 tháng cùng với kiến thức còn hạn hẹp, chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót.

Kính mong quý thầy cô góp ý dé bài luận văn cũng như bài tính toán thiệt kê cụm dao cat rong cỏ được hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn.2 Mục tiêu và nhiệm vụ. - Khảo sát một số loại dao cắt. - Lựa chọn loại dao cắt, cơ cấu truyền động, mẫu dao, kết câu dao cắt cho máy cắt rong cỏ trong môi trường nước.

- Tính toán, thiết kế cụm dao cắt. - Lập qui trình công nghệ chế tạo một trong cụm chính của cụm đao cắt rong cỏ. = 12-< Chương 2 TONG QUAN Quá trình cat thái diễn ra bởi dao có dang nêm phẳng hoặc nêm không gian. Lực cắt vào gây một áp suất riêng đáng kể giữa lưỡi dao và vật liệu cắt, dẫn đến sự phá hủy mối liên kết giữa các phần vật liệu làm tách rời chúng ra.

Quá trình cắt thái phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hình dạng hình học của dao (độ sắc, góc mài, chiều dày và dạng cạnh sắc của dao), đặc tính vật liệu cắt (các tính chất của cơ lý vật liệu cắt), các chế độ động học, động lực học của bộ phận cắt, thái .1 Cơ sở lý thuyết của quá trình cắt thái bằng lưỡi dao./ 3 / Các bộ phận làm việc của những máy cắt thái (rau, có, rơm, củ quả) thường dựa theo nguyên lý cắt thái bằng cạnh sắc của lưỡi dao. Lưỡi dao có thể xem như đỉnh một góc nhị diện được tạo thành bởi những mặt vát. Nếu khảo sát dao khi phóng đại lên thì thay rang: lưỡi dao không phải là một đường thang hình học, bởi vi các mặt vát không cắt nhau dé tạo thành góc nhị diện, nghĩa là lưỡi dao có độ dày nhất định. Độ sắc của dao được xác định không phải bằng trị số của góc nhị diện tạo thành bởi những mặt vát mà bằng bản thân chiều dày của lưỡi.

Nếu nhìn vào đường lưỡi dao khi phóng dai thì nó có dạng một đường răng cưa ít hoặc nhiều (có dang chấu). Hình răng cưa được tạo thành do hai nguyên nhân sau đây: Mặt vát được đúc bằng khuôn. Hạt của khuôn dé lại những rãnh nhỏ và giữa chúng là những gờ nổi. Giao tuyến của những mặt không phăng không thé là một đường thăng và luôn luôn là một đường răng khía.

Nếu mài lưỡi rất sắc mà không có thép hạt mịn thì trong khi mài một số tỉnh thê được giữ lại va năm tại cho, một sô lại tách ra và đó là nguyên nhân sinh ra = [3 đường răng khía. Sự cắt của dao ngoài tac dung bề mat vat nêm còn do chính bằng cạnh sắc lưỡi dao. Nguyên lý cơ bản của việc cắt bằng lưỡi đã được V.Goriatxkin nghiên cứu. Qua trình khảo nghiệm bộ phan cắt thái có trượt làm giảm lực cắt thái và tăng chất lượng thái.

Cắt thái có trượt giảm được áp lực cắt thái có thé thay ở hai nguyên nhân sau đây: Bat cứ một cạnh sắc nào của lưỡi dao cũng không phải là một đường thang mà qua kính hién vi ta thấy có hình răng cưa. Nếu cắt không trượt thì dao đè lên vật liệu, sơ bộ nén chặt trước khi phá hủy, do đó làm tăng sức cản cắt của nó. Nếu khi cắt lưỡi dao trượt trên vật liệu thì các khía lồi sẽ lấy những phần tử vật liệu, có định những vật liệu này dời khỏi chỗ. Giữa những phần tử nằm cạnh nhau và xen kẻ nhau sẽ sinh ra ứng suất kéo pháp tuyến thay cho ứng suất nén.

Đại đa số các vật liệu (vật liệu dẻo, mềm, đàn hồi) khi chịu kéo, chịu cắt có sức cản tức thời nhỏ hơn so với khi nén (ép). Nếu ta tạo sự trượt dọc của lưỡi đao vào quá trình cắt thái thì sự phá hủy mối liên hệ nguyên thủy các phần tử vật liệu được bằng cách kéo chứ không phải bằng cách nén. Nguyên nhân thứ hai có tính chất hình học. Chúng ta khảo sát lem chiều dai của lưỡi đao và một dải vật liệu bị cắt chuyền dịch trên nó.

Nếu đao chuyền dịch thang gdc VỚI chiều dai của nó thì đoạn dao sẽ cắt vào vật liệu bị cắt một dải có chiều dài bằng chiều dài lưỡi đao đã cho. Nếu cắt có trượt do phải dịch chuyền dưới một góc œ đối với pháp tuyến, nên chiều dài dai vật liệu trên Iem chiều dài lưỡi dao trở nên hẹp hơn. Điều này có nghĩa là cùng 1cm chiều dài đoạn lưỡi dao thì cắt thái có trượt chỉ phải phá hủy một lượng ít hơn các thớ hoặc hạt vật liệu.2 Khảo sát, tìm hiêu nguyên tac làm việc và câu tạo một sô dao cat trong may thu hoạch.1 Khảo sát máy gặt xếp dãy (Reaper windrower). / 4 / Máy gặt hàng xếp dãy là loại máy thực hiện nhiều giai đoạn trong việc thu hoạch lúa.

Nhiệm vụ của nó là cat lúa trong bê rộng làm việc cua dao cat từ 1 — 1,5 m sau đó xếp thành một dãy cây lúa đã gặt trên đồng về bên phải (nhìn từ sau). Yêu câu kỹ thuật nông học của nó: Độ sót do cắt 0,5%. Điều chỉnh được chiều cao cắt lúa tùy theo mục đích sử dụng rơm rạ. Làm việc tốt khi độ âm cao, tỷ lệ cỏ dại trong thảm thực vật cao.

Cấu tạo máy gặt hàng xếp dãy: Hình 2.1- Sơ đồ máy gặt hàng xếp dãy. 1- Dao cắt; 2 - Mũi rẽ; 3 - Bánh sao; 4 - Tắm đỡ; 5 - Khung: 6 -Tay điều khiến. Hoạt động: Mũi rẽ (1) có tác dụng phân chia khối lúa vào khoảng cắt có bố trí các đao (2) gắn trên thanh dao không bố trí trên toàn chiều dài của thanh như các thanh dao cắt cỏ, mà chỉ bô trí ở những khoảng gom lúa của mũi rẽ. Bánh sao tự chạy quanh trục của nó nhờ tay gạt gắn trên băng chuyền (4), giữ cho dao cắt.

Sự = {5's chuyén động cua bang chuyén va banh sao sé dua dan cay lua da cat chuyén sang phải và xếp thành dãy trên đồng. Bộ phận cắt của máy này có dao cắt loại thông thường S = t = to = 76,2 mm. Dao cắt loại hở có tắm kê cắt, năng suất cắt 0,3 ha/giờ, tốc độ làm việc 1,5 — 2 km/h. Máy xuất xứ từ Trung Quốc và được Viện lúa quốc tế (IRRI) phố biến.

Có nhược điêm là năng suât thâp, điêu khiên khó khăn.2 Máy gặt đập liên hợp (Combine). / 4 / Máy thu hoạch một giai đoạn tức là vừa cắt lúa vừa đập trên cùng một tô hợp. -L sl &/ 4L a) HH M 4 ol \w Hình 2.2 - Sơ đồ máy gặt đập liên hợp. 1 - Mãi rẽ; 2 - Guéng gạt; 3 - Bộ phan cắt; 4 - Trục vít gom lúa; 5 - Băng chuyền nghiêng; 6 - Buồng thu đá; 7 - Máng trong; 8 - Trống đập; 9 - Trống hat; 10 - Phim giũ rơm; 11 - Tam hứng hạt động: 12 - Sang trên; 13 - Sang dưới; 14 - Trục vít gom các gié lúa gay; 15 -Trục vít gom hạt; 16 - Quạt; 17 - Tấm điều chinh lượng gió; 18 - Ong chuyền hạt; 19 - Trục vít chuyền hạt phía trên; 20 - Băng chuyền gié gãy lên đập lại; 21 - Vit chuyền gié phía trên; 22 - Thùng chứa hạt; 23 - Trục vít truyền hạt đồ ra xe; 24 - Màn chắn trên bộ phận giũ rom.

Bộ phận cắt: dao chuyển động tịnh tiến, các dao này có bước chạy, bước dao, bước răng theo công thức: - 16 - S+2.AS=t=fto= 90 mm. Dao này có băm chấu, làm cho việc cắt tốt hơn, truyền động cho dao là cơ cau biên — tay quay phẳng hoặc không gian. Hoạt động: Khi đi vào thảm lúa, mũi rẽ (1) sẽ phân định ra phần lúa sẽ được cắt và không cắt. Guéng gạt (2) có nhiệm vụ giữ lúa cho dao cắt (3) cắt đứt thân cây, sau đó guông gạt hât lúa đã cắt vào trục vít gom lúa, đưa vào cơ câu đập.3 Máy thu hoạch bắp./ 5 / Máy này chủ yếu dé thu hoạch bắp, cũng còn có thé thái thân cây bắp thành nhiều đoạn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ