Chương 1: Những vấn đề lý luận về thâm quyền của tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tô chức khi giải quyết vụ việc dân sự Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về “Thâm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức khi giải quyết vụ việc dân sự”. Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về “Tham quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tô chức khi giải quyết vụ việc dân sự” và một sô kiên nghị. NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ THÁM QUYÈN CỦA TÒA ÁN DOI VỚI QUYET ĐỊNH CÁ BIET CUA CO QUAN, TO CHỨC KHI GIAI QUYET VU VIEC DAN SU 1. Lý luận chung về tham quyền của Tòa án 1.
Khái niệm về thẩm quyền của Tòa án 1. Khái niệm thẩm quyên Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về “thâm quyền”. Có quan điểm cho răng thâm quyền là quyền xét xử, bao gồm nhiều phương điện mang tính lịch sử cụ thể quy định quyền xét xử của Tòa án. Nội dung của nó do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và các điều kiện khác quyết định.
Theo quan điểm của các học giả ở Pháp, thuật ngữ thâm quyền (compétence) được hiểu là “khả năng mà pháp luật trao cho cơ quan công quyền hoặc cơ quan tài phán thực hiện một công việc nhất định hoặc thâm cứu và xét xử một vụ kiện” [43, tr. Theo Từ điển luật học của Mỹ, thâm quyền được hiểu là “khả năng cơ bản và tối thiểu để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật” [42, tr. Trong tiếng Anh, thuật ngữ “Jurisdiction” được dùng dé chỉ thẩm quyền hoặc quyền tài phán của Tòa án — tức là quyền lắng nghe và phán quyết vụ kiện hay dua ra án lệnh nào đó của Tòa án một vùng lãnh thổ mà trong phạm vi đó thâm quyên của Tòa án (Jurisdiction of Court) được thi hành [1, tr. Như vậy, học giả các nước nói trên đều công nhận thâm quyền (của cơ quan công quyền hay cơ quan tài phán) là quyền xem xét giải quyết các vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền han trong việc ra các quyết định khi giải quyết vụ việc đó.
Quyền xem xét vụ việc và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc là hai nội dung quan trọng, liên hệ mật thiết tạo nên nội hàm của khái niệm thâm quyên. Ở Việt Nam, xét về mặt ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2003, thâm quyền được hiểu là “quyền xem xét dé kết luận hoặc định đoạt một van dé theo pháp luật”[1, tr. Như vậy, về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “thẩm quyền” trong ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Pháp có điểm tương đồng được quan niệm là quyền xem xét, quyết định, giải quyết một van đề hay vụ việc nào đó. Nói cách khác, có thé hiểu thẩm quyền là quyền của một chủ thể nhất định, đó là khả năng mà pháp luật cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định.
Mỗi cơ quan khi được thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình đều hoạt động trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định với những quyền năng mà pháp luật cho phép. Việc này được gọi là thâm quyền của CQTC đó. Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, ở Việt Nam, Từ điển Luật học quan niệm thâm quyên là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của CQTC nhà nước do pháp luật quy định như thâm quyền của Tòa án các cấp, thâm quyền của viện kiểm sát các cấp, của cơ quan công an các cấp”[37, tr. Khái niệm thâm quyền cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu.
Theo tác giả Lê Hoài Nam: “Tham quyền là quyền được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật giao cho một tổ chức hoặc nhân viên Nhà nước. Nói khác đi, thâm quyên là quyền của một chủ thé nhất định, đó là khả năng mà pháp luật cho phép được thực hiện một công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định”[15, tr. Theo tác giả Lê Thị Ha: “Tham quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một CQTC hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước”|[ó, tr. Nhìn chung các cách giải thích đều thừa nhận thâm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan Nhà nước trong việc thực thi quyền lực Nhà nước được pháp luật quy định.
Hiến pháp và các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước hầu như không sử dụng thuật ngữ thâm quyền, mà phổ biến là thuật ngữ “nhiệm 10 vu và quyền hạn”. Trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đã được Hiến pháp và các văn bản về tô chức bộ máy nhà nước quy định, các văn bản pháp luật có tính chất chuyên ngành sẽ quy định quyền được giải quyết các công việc, nhiệm vụ cụ thé dé quan lý nhà nước trong ngành, lĩnh vực chuyên môn. Như vậy, thâm quyền được sử dụng dé xác định những van đề, vụ việc cụ thé thuộc quyền xem xét, quyết định, giải quyết của cơ quan này hay co quan khác, của chức vụ này hay chức vụ khác. Theo các quy định này, có thé hiểu thâm quyền trước hết gan với các cơ quan nhà nước, người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước, tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả của quản lý nhà nước và tính liên tục của hoạt động quản lý thì pháp luật có thể trao thâm quyền cho cá nhân hoặc tô chức nhất định trong những tình huống cụ thé.
Cá nhân, t6 chức được trao thâm quyên theo quy định của pháp luật là chủ thé không đương nhiên sử dụng quyền lực nhà nước mà chỉ trong những tình huống nhất định pháp luật đã dự liệu rằng cá nhân, tổ chức đó được thực hiện những hoạt động hoặc giải quyết những công việc cụ thể như các cơ quan, cá nhân trong cơ quan nhà nước. Như vậy, khái niệm “thâm quyền” đù được giải thích khác nhau dưới nhiều góc độ, tuy nhiên, vẫn có những đặc điểm được giải thích thống nhất. Từ những phân tích trên cho thấy khái niệm “thẩm quyền” có thể được hiểu như sau: “Thẩm quyền là quyên hạn, nghĩa vụ hành động quyết định của các CQOTC hoặc cá nhân cua CQTC thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định ”. Khái niệm thẩm quyển của Tòa án Trong lịch sử hình thành và phát triển xã hội loài người từ xưa đến nay, quyên lực luôn là van đề được quan tâm và tranh luận nhiều, đặc biệt là quyền lực Nhà nước.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được” [6, tr. Nhà nước được xây dựng từ khế ước xã hội để bảo vệ quyền con người. Nhà nước ra đời với chức năng chủ yêu là điêu hòa xã hội, duy trì sự 11 ồn định và phát triển của xã hội theo một trật tự nhất định. Một trong những công cụ hiệu quả nhất dé thực hiện quyền lực Nhà nước là pháp luật.
Pháp luật của Nhà nước là tối thượng nhưng suy cho cùng nó cũng không thể tách rời hai từ “công lý”, trọng trách quan trọng và cao cả bậc nhất của pháp luật là dé thiết lập, duy trì và bảo vệ sự công băng xã hội. Từ thời cô đại, các luật gia La Mã đã khăng định: ở đâu có pháp luật, ở đó phải có hệ thống bảo đảm cho luật pháp được thi hành một cách nghiêm chỉnh. Trong quá trình hoạt động, để thực hiện tốt chức năng vốn có, Nhà nước không thé tự mình làm tất cả mọi công việc mà phải trao quyền cho một số cơ quan chuyên môn dé các cơ quan này nhân danh nhà nước tham gia vào việc quản lí xã hội. Do đó, dé thực hiện nhiệm vụ được giao, mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước phải được trao những quyền hạn nhất định, đó là tiền đề làm xuất hiện thâm quyên.
Tòa án là một cơ quan có vi trí quan trọng trong bộ máy nhà nước. Theo đó, Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước, thực hiện một trong các lĩnh vực của Nhà nước, đó là quyền tư pháp. Tòa án có thâm quyền xét xử và nhân danh Nhà nước dé ra ban án hoặc quyết định giải quyết vụ án nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, CỌTC, lợi ích của Nhà nước. Do vậy, việc nghiên cứu làm rõ khái nệm thâm quyền của Tòa án là quan trọng.
Trên thế giới, luật tố tụng của các quốc gia thường quy định về phạm vi quyền hạn của Tòa án. Bên cạnh đó, một số quốc gia không giới hạn thâm quyền của Tòa án trong các văn bản quy phạm, mà ở đó các thâm phán có thé sáng tạo pháp luật, giải thích pháp luật khi giải quyết các vụ việc dựa trên cơ sở mục đích điều chỉnh lẽ công bằng lương tâm va đạo đức nghé nghiệp. Các quyên năng này có thé coi là quyền năng mang tinh tất yếu của thâm phán, vi họ có quyền đưa ra phán quyết về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với các hành vi của con người trong xã hội. Bên cạnh đó, học giả một số nước như Anh, Pháp, Mỹ, như đã đề cập ở mục 1.1, khi đề cập đến nội hàm khái niệm thâm quyên của cơ quan tài phán hay thâm quyên của Tòa án đêu 12 công nhận hai nội dung quan trọng đó là quyền xem xét vụ việc và quyền ra các quyết định khi giải quyết vụ việc.
Ở Việt Nam, thâm quyền của Tòa án bao gồm nhiều nội dung được xem xét dưới nhiều góc độ như thâm quyền về hình sự, thâm quyền về hành chính và thâm quyền về dân sự. Mỗi loại thâm quyền tạo ra những giới hạn khác nhau cho phạm vi hoạt động của Tòa án. Xác định thẩm quyền là công việc bắt buộc của Tòa án. Cụ thể là xem xét tính hợp pháp của đơn khởi kiện hay đơn yêu cầu cùng các tài liệu chứng cứ chứng minh đề quyết định trả lại đơn hoặc thụ lý vụ việc.
Nếu bỏ qua công việc này sẽ ảnh hưởng đến công tác giải quyết vì quyết định giải quyết vụ việc của Tòa án chỉ có giá trị pháp lý khi Tòa án giải quyết đúng thâm quyên.