Nghiên cứu về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

Luận văn phân tích Thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam trong Luận án Tiến sĩ, vận dụng lý thuyết vững chắc, đề xuất giải pháp sáng tạo cho chuyên ngành

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

216
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

1.2.1. Mục đích nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp luận

1.4.2. Phương pháp nghiên cứu

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.2. Về cơ sở lý luận về thẩm quyền của Quốc hội

2.3. Về thực trạng thẩm quyền của Quốc hội

2.4. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2.4.1. Về cơ sở lý luận về thẩm quyền của Quốc hội

2.4.2. Về thực trạng thẩm quyền của Quốc hội

2.5. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra Luận án cần tiếp tục nghiên cứu

2.5.1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

2.5.2. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục nghiên cứu

2.6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2.6.1. Câu hỏi nghiên cứu

2.6.2. Giả thuyết nghiên cứu

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

3.1. Khái niệm thẩm quyền của Quốc hội

3.2. Các lý thuyết cơ bản về thẩm quyền của Quốc hội

3.2.1. Lý thuyết về xác định nguồn gốc thẩm quyền của Quốc hội

3.2.2. Lý thuyết về xác định nội dung, phạm vi thẩm quyền của Quốc hội

3.3. Quá trình nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết về thẩm quyền của Quốc hội ở Việt Nam

3.3.1. Giai đoạn từ 1946 – 1959

3.3.2. Giai đoạn từ 1959 đến 1992

3.3.3. Giai đoạn 2001 đến nay

3.4. Đặc điểm, nội dung thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

3.4.1. Đặc điểm thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

3.4.2. Nội dung thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

3.5. Cơ sở xác định thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

3.5.1. Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhân dân trong chế độ XHCN

3.5.2. Hình thức cấu trúc lãnh thổ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

3.5.3. Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Nhà nước

3.5.4. Khả năng, mức độ thực hành dân chủ trực tiếp trên thực tế

3.5.5. Sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng XHCN và quá trình hội nhập quốc tế

4. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN VÀ VIỆC THỰC THI THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

4.1. Thực trạng quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

4.1.1. Thực trạng quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam thời kỳ trước khi có Hiến pháp năm 2013

4.1.2. Thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Quốc hội

4.2. Thực trạng thực hiện thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam trong thời gian qua

4.2.1. Những kết quả đạt được trong thực hiện thẩm quyền của Quốc hội

4.2.2. Những hạn chế trong thực hiện thẩm quyền của Quốc hội

4.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện thẩm quyền của Quốc hội thời gian qua

5. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

5.1. Quan điểm hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

5.1.1. Đảm bảo thể hiện nhận thức đúng về địa vị pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước Việt Nam

5.1.2. Đề cao chủ quyền nhân dân – giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc quy định thẩm quyền của Quốc hội

5.1.3. Đảm bảo thượng tôn Hiến pháp và luật trong việc thực hiện thẩm quyền của Quốc hội

5.1.4. Phân định minh bạch thẩm quyền của Quốc hội để làm cơ sở cho việc kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp hành pháp và tư pháp

5.2. Đảm bảo Quốc hội hoạt động thực chất, hiệu quả, thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân

5.2.1. Tập trung nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội làm cơ sở xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đảm bảo hiệu quả quản trị quốc gia bằng pháp luật

5.2.2. Tăng cường tính chuyên nghiệp, hiện đại, khoa học, công khai, minh bạch trong thực thi thẩm quyền của Quốc hội, đảm bảo thẩm quyền của Quốc hội phù hợp với điều kiện về tổ chức và chế độ làm việc của Quốc hội

5.3. Giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội

5.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội

5.3.2. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung một số quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội

5.3.3. Nhóm giải pháp nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi thẩm quyền của Quốc hội

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

Quốc hội Việt Nam, được thành lập từ năm 1946, là cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân, có thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp và giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước. Điều này thể hiện rõ vai trò của Quốc hội trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có trách nhiệm quyết định các vấn đề quốc kế dân sinh, thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân dân. Tuy nhiên, việc thực hiện thẩm quyền này vẫn gặp nhiều thách thức, cần được nghiên cứu và hoàn thiện hơn nữa.

1.1. Khái niệm và nội dung thẩm quyền của Quốc hội

Khái niệm thẩm quyền của Quốc hội bao gồm quyền lực lập pháp, quyền giám sát và quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia. Nội dung thẩm quyền này được quy định rõ ràng trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật. Quốc hội có quyền ban hành luật, quyết định ngân sách, giám sát hoạt động của Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác. Điều này không chỉ thể hiện vai trò của Quốc hội trong việc xây dựng pháp luật mà còn đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện thẩm quyền này còn nhiều hạn chế, cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

II. Thực trạng thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam

Thực trạng thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều điểm tích cực nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Quốc hội đã có những bước tiến trong việc thực hiện quyền lập pháp và giám sát hoạt động của Nhà nước. Tuy nhiên, một số quy định pháp luật vẫn chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến việc thực hiện thẩm quyền chưa đạt hiệu quả cao. Các cơ quan nhà nước khác đôi khi chưa thực sự tôn trọng quyền giám sát của Quốc hội, gây khó khăn trong việc thực hiện chức năng của cơ quan này. Đặc biệt, sự phối hợp giữa Quốc hội và các cơ quan khác trong việc thực hiện quyền lực nhà nước còn nhiều bất cập.

2.1. Những kết quả đạt được

Trong thời gian qua, Quốc hội đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong việc thực hiện thẩm quyền của mình. Quốc hội đã thông qua nhiều luật quan trọng, góp phần vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam. Các hoạt động giám sát của Quốc hội cũng đã được tăng cường, giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội mà còn thể hiện rõ vai trò của cơ quan này trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhân dân.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả, nhưng thẩm quyền của Quốc hội vẫn còn nhiều hạn chế. Một số quy định pháp luật chưa rõ ràng, dẫn đến việc thực hiện thẩm quyền không hiệu quả. Sự phối hợp giữa Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác còn thiếu chặt chẽ, gây khó khăn trong việc thực hiện quyền giám sát. Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức về vai trò của Quốc hội chưa đầy đủ, cũng như sự thiếu hụt về nguồn lực và cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện.

III. Giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội

Để nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Quốc hội, cần có những giải pháp cụ thể. Trước hết, cần hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội, đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng. Thứ hai, cần tăng cường sự phối hợp giữa Quốc hội và các cơ quan nhà nước khác, nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và thực hiện quyền lực nhà nước. Cuối cùng, cần nâng cao năng lực cho các đại biểu Quốc hội, giúp họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc đại diện cho Nhân dân.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Việc hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội là rất cần thiết. Cần xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành để đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong hệ thống pháp luật. Điều này sẽ giúp Quốc hội thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp và giám sát hoạt động của Nhà nước. Cần có các quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm của Quốc hội trong từng lĩnh vực, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

3.2. Tăng cường năng lực cho đại biểu Quốc hội

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, cần chú trọng đến việc đào tạo và bồi dưỡng năng lực cho các đại biểu Quốc hội. Việc này không chỉ giúp họ nắm vững kiến thức pháp luật mà còn nâng cao khả năng thực hiện quyền giám sát và đại diện cho Nhân dân. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về pháp luật, quản lý nhà nước và các vấn đề xã hội để các đại biểu có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ thẩm quyền của quốc hội việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Việc khảo sát các công trình nghiên cứu được thực hiện theo định hướng nghiên cứu của Luận án là tập trung làm rõ các vấn đề sau: Cơ sở lý luận về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam; Thực trạng thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam; Quan điểm và giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam. Hiện nay những vấn đề liên quan đến đề tài thẩm quyền Quốc hội Việt Nam đã được đề cập lồng ghép trong một số công trình nghiên cứu chung về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về kiểm soát quyền lực, về nhà nước pháp quyền. Trong đó, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu đề cập đến khía cạnh lý luận và thực trạng thẩm quyền của Quốc hội nói chung, hoặc của Quốc hội ở một số quốc gia, khu vực. Mặc dù không có công trình nào trực tiếp đề cập đến thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam, nhưng các công trình nghiên cứu liên quan đến Quốc hội của các học giả nước ngoài có ý nghĩa tham khảo quan trọng cho Luận án nhất là ở khía cạnh lý luận thẩm quyền của Quốc hội và xu hướng đổi mới, hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội.

Các công trình nghiên cứu thực hiện ở Việt Nam đã đề cập và giải quyết được nhiều vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam hơn, cả trên phương diện lý luận, thực trạng, quan điểm, giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Để bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nước một cách hiệu quả, các cơ quan nhà nước, trong đó có Quốc hội cần được phân định thẩm quyền rõ ràng. Mặc dù, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về thẩm quyền của Quốc hội nói chung và thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam nói riêng, tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến phân định thẩm quyền Quốc hội nói chung đã được đề cập lồng ghép trong một số công trình nghiên cứu chung về Quốc hội, nghiên cứu về bộ máy nhà nước, nghiên cứu về kiểm soát quyền lực, nghiên cứu về nhà nước pháp quyền. Về cơ bản, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã xác định được một số nội dung lý luận và thực tiễn về thẩm quyền của Quốc hội/cơ quan lập pháp nói chung như sau: 1.

Về cơ sở lý luận về thẩm quyền của Quốc hội luan an 11  Về nguồn gốc, bản chất, ý nghĩa của thẩm quyền của Quốc hội Nguồn gốc thẩm quyền của Quốc hội nói chung đã được khẳng định trong một số công trình kinh điển ở nước ngoài về chế độ dân chủ, có thể kể như: Cuốn “Chính thể đại diện” của John Stuart Mill; Cuốn “Nền dân trị Mỹ” của Alexis de Tocqueville; Cuốn “Khế ước xã hội” của Jean-Jacques Rousseau; Cuốn “Bàn về Tinh thần pháp luật” của Montesquieu. Các công trình này đều có nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp khẳng định Quốc hội do toàn dân bầu cử nên, là cơ quan đại diện cho ý chí chung của toàn dân để đưa ra những quyết định quan trọng nhất. Quyền lực của Quốc hội xuất phát từ quyền lực của Nhân dân. Hay nói cách khác là, Nhân dân thông qua Quốc hội để thực hiện chủ quyền tối cao của mình.

Thẩm quyền của Quốc hội được giới hạn bởi quyền lực của Nhân dân và thể hiện dưới hình thức pháp lý là những quy định của hiến pháp. Trong cuốn “Chính thể đại diện” của John Stuart Mill có đoạn viết “Ý nghĩa của chính thể đại diện là toàn thể dân chúng, hay một phần đông đảo nào đó của nó, thực thi quyền lực kiểm soát tối thượng thông qua các đại diện được chính họ bầu lên theo định kỳ; cái quyền lực ấy phải tồn tại ở đâu đó trong mọi hiến pháp. Họ phải sở hữu quyền tối thượng ấy một cách đầy đủ nhất. Họ phải là những ông chủ đối với mọi hoạt động của chính quyền vào bất cứ lúc nào họ muốn”7.

Alexis de Tocqueville, tác giả của cuốn “Nền dân trị Mỹ” đã viết “Nhân dân tham gia vào việc soạn thảo các bộ luật thông qua việc lựa chọn các nhà làm luật…Nhân dân là nguyên nhân và là mục đích của mọi điều. Tất cả đều từ Nhân dân mà ra và tất cả đều được tích tụ vào Nhân dân”8. Thừa nhận về vai trò của Quốc hội trong việc xây dựng nền dân chủ, Báo cáo toàn cầu về Nghị viện năm 2012 (Global parliamentary report: The changing nature of parliamentary representation) của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) khẳng định “Nghị viện là thiết chế không thể thiếu của các nền dân chủ đại diện trên thế giới” 9, “Nghị viện là thể chế trung tâm của nền dân chủ và là sự thể hiện chủ quyền của mỗi 7 John Stuart Mill (1861, bản dịch 2015), Chính thể đại diện, Nxb Tri thức, tr.171 8 Alexis de Tocqueville (2015), Nền dân trị Mỹ, (Phạm Toàn dịch – Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính), NXB Tri Thức, tr. 9 IPU (2012), Global parliamentary report The changing nature of parliamentary representation, tr.

Truy cập ngày 04/02/2020 từ: https://www.org/resources/publications/reports/2016-07/global-parliamentary-report-2012-changing- nature-parliamentary-representation. luan an 12 quốc gia”10. Trong cuốn “Thiết chế Nghị viện: Những khái niệm cơ bản”, tác giả Phillip Norton và Cristina Leston-Bandeira cũng khẳng định “Chức năng đại diện là trung tâm của các lí do vì sao Quốc hội tồn tại”11.  Về phân định thẩm quyền cho Quốc hội trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác Một số tác phẩm kinh điển đã có phần nội dung trình bày về phần quyền lực cần trao cho Quốc hội.

Một số tác giả cho rằng Quốc hội có quyền làm luật và giám sát chẳng hạn như Montesquieu trong cuốn “Tinh thần pháp luật” (xuất bản năm 1748 tại Pháp, bản dịch tiếng Việt của Hoàng Thanh Đạm do Nxb. Giáo dục xuất bản năm 1996) đã viết “Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật và xem xét người ta thực hiện luật như thế nào”.12 Cùng quan điểm trên, ở tác phẩm “Khế ước xã hội”, Jean Jacques Rousseau cũng khẳng định: “Quyền tối thượng do Hội đồng tối cao thực hiện và được thể hiện ở việc ban hành các đạo luật có nội dung thể hiện ý chí chung của tập thể”. Ở cuốn “Chính thể đại diện”, John Stuart Mill đã dành hẳn Chương V – “Những chức năng đích thực của các cơ quan đại diện” để phân tích về phạm vi thẩm quyền của Quốc hội (cơ quan đại diện). Với những nội dung trình bày trong cuốn sách này, có thể thấy theo quan điểm của John Stuart Mill, công việc mà cơ quan đại diện có thể làm tốt hơn bất kỳ một cá nhân nào là “ việc bàn cãi cân nhắc”13 và “chức năng đích thực của một Quốc hội đại diện là giám sát và kiểm soát Chính phủ…” chứ không phải là “cai trị hay ra lệnh áp đặt chi ly cho những người có chức vụ chính quyền”.

Trong khi bàn về phạm vi thẩm quyền của Quốc hội, John Stuart Mill đã nêu lên sự cần thiết của việc đưa ra những giới hạn cho thẩm quyền của Quốc hội. Theo ông, “phần việc của họ (cơ quan đại diện toàn dân – Quốc hội) là chỉ ra những gì cần thiết, là cơ quan đưa ra các đòi hỏi của dân chúng và là một nơi để tranh cãi lật đi lật 10 IPU & UNDP (2012), Global parliamentary report:The changing nature of parliamentary representation, tr.3 Truy cập ngày 04/02/2020 từ: https://www.org/resources/publications/reports/2016-07/global-parliamentary-report-2012-changing- nature-parliamentary-representation. Phillip Norton và Cristina Leston-Bandeira (2005), Thiết chế nghị viện: Những khái niệm cơ bản, (Văn phòng 11 Quốc hội, Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, tr. Giáo dục, tr.

13 John Stuart Mill (1861, bản dịch 2015), Chính thể đại diện, Nxb Tri thức, tr. luan an 13 lại mọi ý kiến liên quan tới những việc chung dù là lớn hay nhỏ; cùng với việc này là kiểm tra, giám sát bằng phê bình và cuối cùng là rút lại sự ủng hộ đối với những quan chức trên thực tế quản lý việc công hay những người bổ nhiệm những quan chức ấy. Không có gì khác ngoài việc hạn chế chức năng của các Quốc hội đại diện ở trong những ranh giới hợp lý đó sẽ cho phép có được những thuận lợi của kiểm tra nhân dân kết hợp với những đòi hỏi không kém phần quan trọng của việc lập pháp (ngày càng gia tăng tầm quan trọng theo gia tăng kích cỡ và tình trạng phức tạp của hoạt động con người) và cai trị chuyên nghiệp”.14 Một số công trình được công bố trong thời gian gần đây đã có tổng kết các quyền mang tính truyền thống của Quốc hội. Trong cuốn “How Parliament works” của Robert Rogers và Rhodri Walters do Pearson Education Limited tái bản lần thứ 6 năm 2006 đã xác định các vai trò truyền thống của Quốc hội bao gồm đại diện cho các thành phần, lập pháp, cho phép đánh thuế và chi tiêu, xác định trách nhiệm của Chính phủ.

Hay cuốn “The Role of Parliament in Government” của John K.Johnson, do Ngân hàng Thế giới phát hành năm 2005 cũng đã tổng kết ba chức năng phổ biến của Quốc hội trong nền dân chủ là: đại diện, lập pháp và giám sát (representation, lawmaking, and oversight) 16. Trong cuốn “The Challenge for parliament: making government accountable”17 (Một Báo cáo của Ủy ban kiểm soát Quốc hội thuộc Hansard Society18công bố năm 2001) có nêu rằng, Quốc hội thực hiện một vai trò duy nhất trong bất kỳ một nền dân chủ đại 14 John Stuart Mill (1861, bản dịch 2015), Chính thể đại diện, Nxb Tri thức, tr. 15 Robert Rogers và Rhodri Walters (2006), How Parliament works (tái bản lần thứ 6), Pearson Education Limited, tr.Johnson (2005), The Role of Parliament in Government, Word Bank, Truy cập ngày 26/02/202, từ: http://documents1.org/curated/en/322091468174864214/pdf/358660WBI0Role1n0Government1PUB LIC1.pdf 17 Hansard Society (2001), The Challenge for Parliament Making Government Accountable Truy cập ngày 26/02/202, từ: https://assets.net/rdwvqctnt75b/4Va7p4XznFJQ80XyrCgV06/1c4d43dd2eb46f36598ec730d26377a7/T he-Challenge-for-Parliament-Making-Government-Accountable-2001.pdf 18 Hansasrd Society là một cơ quan độc lập phi đảng phái được thành lập vào năm 1944 ở Anh với mục đích hoạt động là thúc đẩy dân chủ nghị viện. luan an 14 diện nào đó là thay mặt dân chúng yêu cầu Chính phủ phải giải trình, làm cho Chính phủ có trách nhiệm.

Quốc hội nên đảm bảo một sự giám sát thường trực về công việc của Chính phủ, thường xuyên yêu cầu các Bộ trưởng giải thích về các hành động của họ và tìm biện pháp khắc phục hậu quả nếu cần thiết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam" của tác giả Đinh Thị Cẩm Hà, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Võ Trí Hảo và PGS.TS Đỗ Minh Khôi, được thực hiện tại Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh vào năm 2023. Bài viết tập trung vào việc phân tích và làm rõ thẩm quyền của Quốc hội trong hệ thống chính trị Việt Nam, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và chức năng của cơ quan lập pháp trong việc xây dựng và thực thi pháp luật. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức hoạt động của Quốc hội, cũng như những thách thức mà cơ quan này đang phải đối mặt trong bối cảnh hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp luật, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình", nơi đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp đất đai, hay "Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật", giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị pháp lý của các văn bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp luật liên quan đến giá đất, một vấn đề quan trọng trong quản lý tài nguyên đất đai. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh pháp lý liên quan đến thẩm quyền và chức năng của các cơ quan nhà nước tại Việt Nam.