Tổng quan luận án

Công tác đánh giá cán bộ nói chung và đánh giá giảng viên nói riêng là một khâu có vị trí hệ trọng trong quy trình quản trị nguồn nhân lực, là căn cứ trực tiếp để thực hiện các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Các văn kiện, nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Quy định số 124-QĐ/TW ngày 04-10-2023 của Bộ Chính trị về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị (thay thế Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08-3-2018); cùng định hướng tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ yêu cầu đổi mới việc kiểm tra, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, nhà giáo.

Tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đội ngũ giảng viên là lực lượng chủ chốt thực hiện các nhiệm vụ chính trị trọng yếu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp và nghiên cứu khoa học lý luận chính trị. Trong tổng số 2.112 cán bộ, công chức, viên chức của Học viện, đội ngũ giảng viên có 959 người (chiếm khoảng 45%). Trước năm 2017, công tác đánh giá giảng viên tại Học viện còn có sự nhầm lẫn giữa đánh giá chuyên môn với bình xét thi đua khen thưởng cuối năm. Từ năm 2017 đến nay, khi Giám đốc Học viện ban hành Hướng dẫn về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, hoạt động đánh giá đã đi vào nền nếp hơn. Tuy vậy, thực tế vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: việc quán triệt quy định có nơi chưa đầy đủ; quy trình thực hiện ở một số đơn vị chưa thực sự chặt chẽ; tính tự giác chưa cao; vẫn còn hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay" thuộc ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước (mã số 9310202) mang tính cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác này đến năm 2035.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan các công trình khoa học ngoài nước và trong nước liên quan đến đề tài luận án, đánh giá các kết quả đã đạt được và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.
  3. Đánh giá thực trạng công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; chỉ ra các nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm.
  4. Dự báo các yếu tố tác động, đề xuất phương hướng và giải pháp thực hiện tốt công tác đánh giá giảng viên của Học viện đến năm 2035.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Trung tâm Học viện và 5 đơn vị trực thuộc, bao gồm: Học viện Chính trị khu vực I, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị khu vực IV và Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Đối tượng khảo sát tập trung vào giảng viên cơ hữu và giảng viên tập sự (không nghiên cứu giảng viên thỉnh giảng).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng công tác đánh giá giảng viên từ năm 2017 (thời điểm Giám đốc Học viện ban hành văn bản hướng dẫn đánh giá, phân loại mới) đến nay. Các phương hướng, giải pháp đề xuất có giá trị áp dụng đến năm 2035.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm nội dung chính:

Các công trình khoa học ngoài nước

  • Về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức: Tác giả Mei Jixia (2012) nghiên cứu hệ thống đánh giá hiệu quả công việc của công chức Trung Quốc dựa trên 5 nội dung (đạo đức, khả năng, sự siêng năng, hiệu suất, tham nhũng) và việc tích hợp công nghệ số, đánh giá 360 độ qua mạng xã hội. Dương Chí Bân (2021) nghiên cứu việc hoàn thiện cơ chế kiểm tra, đánh giá cán bộ tại thành phố Vu Hồ, tỉnh An Huy. Chu Hiểu Hân và Vương Thạc (2021) ứng dụng lý thuyết tự trình bày của Goffman để xây dựng mô hình đánh giá đa góc độ đối với cán bộ trẻ ưu tú (tự đánh giá, chuyên gia đánh giá, tổ chức đánh giá, cơ sở đào tạo đánh giá).
  • Về đánh giá giảng viên: Kelly O'Brien (2014) nghiên cứu hệ thống đánh giá giảng viên và việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm cải thiện hoạt động dạy và học. Fajar Masya, Hendra Prastiawan, Destriyani Putri (2017) nghiên cứu phương pháp Elimination et Choix Traduisant la Realite (electer) tại Trường Đại học Mercu để tối ưu hóa việc đánh giá giảng viên qua phản hồi của sinh viên. Nghiên cứu tại Đại học Champasắc đề xuất 5 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá giảng viên. Yimer Amedie Muhie, Abeselom Befekadu Wolde, Cheru Haile Tesfay, Berhanu Anbase Bedada (2020) nghiên cứu hệ thống giám sát và đánh giá bài giảng (LEMS) dựa trên nền tảng web tại Đại học Assosa (Ethiopia). Chung Chi Dương, Lữ Na, Cao Quế Quyên (2022) phân tích hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả giảng viên tại 4 trường đại học của Mỹ theo 3 lĩnh vực (giảng dạy, nghiên cứu khoa học, dịch vụ) và liên hệ với hệ thống của Nhật Bản.

Các công trình khoa học trong nước

  • Về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức: Phạm Tất Thắng (2012) nghiên cứu đánh giá cán bộ cấp huyện diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Nguyễn Minh Tuấn (2017) phân tích cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp đổi mới việc đánh giá, sử dụng cán bộ. Vũ Thị Ngọc Dung (2018) chỉ ra tính khó lượng hóa của các tiêu chí bản lĩnh chính trị trong quy trình đánh giá công chức. Đào Thị Thanh Thủy (2019) nghiên cứu đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ tại Hà Nội, Đà Nẵng, Lào Cai. Nguyễn Văn Thưởng (2021) nghiên cứu đổi mới đánh giá cán bộ cấp cơ sở tại các đảng bộ học viện, trường sĩ quan quân đội. Phạm Ngọc Hùng (2021) và Nguyễn Chí Hiếu (2021) tập trung vào các nguyên tắc khách quan, toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong đánh giá cán bộ. Cuốn sách của đồng chí Nguyễn Phú Trọng (2022) nhấn mạnh việc lấy phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và hiệu quả công tác làm thước đo chủ yếu trong đánh giá cán bộ.
  • Về đánh giá giảng viên đại học và trường chính trị: Trần Xuân Bách (2010) đề xuất phương pháp phản hồi 360 độ nhằm chuẩn hóa việc đánh giá giảng viên đại học. Đinh Thị Minh Tuyết (2012) xác định 3 nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng giảng viên (thể lực, trí lực, phẩm chất chính trị đạo đức). Phạm Văn Thuần và Nghiêm Thị Thanh (2015) đề xuất quy trình chuẩn đánh giá giảng viên theo năng lực và vị trí việc làm. Kim Thị Hạnh, Nguyễn Thị Ngát, Nguyễn Thị Thu Linh (2021) ứng dụng mô hình ASK (Attitude - Skill - Knowledge) trong đánh giá năng lực giảng viên. Nguyễn Thị Bích Lan (2021) phân tích việc tạo động lực cho giảng viên trường chính trị cấp tỉnh thông qua cải tiến công tác đánh giá.
  • Về giảng viên và đánh giá giảng viên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Nguyễn Văn Lượng (2013) nghiên cứu tiêu chí đội ngũ giảng viên Học viện. Ngô Thị Hải Anh (2016, 2021) nghiên cứu công tác quản lý tạo động lực và đánh giá cán bộ gắn với bình xét thi đua, khen thưởng tại Học viện. Nguyễn Thế Sang (2020) nghiên cứu công tác tổ chức cán bộ phục vụ phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá cán bộ và đánh giá giảng viên đại học nói chung, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về công tác đánh giá giảng viên dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, đặt trong bối cảnh đặc thù của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2017 đến nay và định hướng đến năm 2035.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ, công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ nhà giáo và công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.
  • Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn tổ chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và công tác tổ chức cán bộ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; hệ thống các văn bản pháp quy, báo cáo sơ kết, tổng kết công tác đánh giá cán bộ của Học viện qua các thời kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu: Sử dụng trong Chương 1, 2 và 3 để hệ thống hóa tài liệu, tổng quan các công trình nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Sử dụng xuyên suốt các chương để lập luận và rút ra các kết luận khoa học.
  • Phương pháp kết hợp logic và lịch sử: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 nhằm tái hiện quá trình hình thành, phát triển của Học viện và sự biến chuyển của các tiêu chuẩn giảng viên qua các thời kỳ.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Sử dụng chủ yếu tại Chương 3 để đúc kết thực trạng ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý của Đảng ủy và Ban Giám đốc Học viện.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi: Tác giả xây dựng 2 mẫu phiếu khảo sát dành cho 3 nhóm đối tượng, thực hiện thu thập trong thời gian 1,5 tháng với tổng số 600 phiếu, sau đó xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Google Forms.
Nhóm đối tượng Đơn vị khảo sát Số lượng phiếu
1. Cán bộ lãnh đạo, quản lý - Trung tâm Học viện: 25 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực I: 15 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực II: 15 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực III: 15 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực IV: 15 phiếu
- Học viện Báo chí và Tuyên truyền: 15 phiếu
100 phiếu
2. Đội ngũ giảng viên - Trung tâm Học viện: 50 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực I: 30 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực II: 30 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực III: 30 phiếu
- Học viện Chính trị khu vực IV: 30 phiếu
- Học viện Báo chí và Tuyên truyền: 30 phiếu
200 phiếu
3. Học viên - Lớp đào tạo giảng viên lý luận chính trị: 34 phiếu
- Các lớp đại học chuyên ngành chính trị: 30 phiếu
- Các lớp đại học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền: 30 phiếu
- Các lớp Cao cấp lý luận chính trị: 80 phiếu
- Lớp Sau đại học: 70 phiếu
- Lớp bồi dưỡng kiến thức kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: 56 phiếu
300 phiếu
Tổng cộng 600 phiếu

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này phân tích, phân loại chi tiết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm: các công trình về đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; các công trình về đánh giá giảng viên trong hệ thống giáo dục đại học; và các công trình về đội ngũ cán bộ, giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả chỉ ra các thành tựu lý luận đã đạt được (như việc tiếp cận phương pháp 360 độ, phương pháp electer, mô hình ASK, đánh giá theo vị trí việc làm) và xác định khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết về mặt lý luận và thực tiễn trong chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.

Chương 2: Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chương 2 trình bày tổng quan về lịch sử 75 năm hình thành và phát triển của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (tiền thân là Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương thành lập tháng 01-1949 tại chiến khu Việt Bắc). Luận án phân tích chức năng, nhiệm vụ theo Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị, xác định vị thế trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chính trị với 11 nhiệm vụ cụ thể.

Về tổ chức bộ máy và nhân sự, đến tháng 7-2023 Học viện có tổng số 1.982 cán bộ, công chức, viên chức (1.755 biên chế chính thức; 04 giáo sư, 108 phó giáo sư, 624 tiến sĩ, 881 thạc sĩ, 271 cử nhân; 243 chuyên viên cao cấp và tương đương, 668 chuyên viên chính và tương đương). Đảng bộ Học viện gồm 8 đảng bộ, 27 chi bộ cơ sở với 1.853 đảng viên chính thức và dự bị.

Về cơ cấu và đặc điểm của đội ngũ giảng viên, tính đến tháng 12-2022, toàn hệ thống Học viện có 956 giảng viên với cơ cấu phân bố và độ tuổi cụ thể:

  • Phân bố theo đơn vị: Trung tâm Học viện có 320 giảng viên (33%); Học viện Báo chí và Tuyên truyền có 244 giảng viên (26%); Học viện Chính trị khu vực II có 136 giảng viên (14%); Học viện Chính trị khu vực I có 121 giảng viên (13%); Học viện Chính trị khu vực III có 83 giảng viên (9%); Học viện Chính trị khu vực IV có 52 giảng viên (5%).
  • Cơ cấu độ tuổi: Dưới 35 tuổi có 155 người (16,2%); từ 35 đến 50 tuổi có 569 người (59,5%); trên 50 tuổi có 232 người (24,3%).
  • Tỷ lệ giảng viên trẻ đứng lớp: Giữa các đơn vị có sự chênh lệch (Học viện Báo chí và Tuyên truyền đạt 100%, Học viện Chính trị khu vực IV đạt 100%, Học viện Chính trị khu vực III đạt 50%, Học viện Chính trị khu vực I đạt 36,5%, Trung tâm Học viện đạt 35%, Học viện Chính trị khu vực II đạt 23,2%).

Luận giải Quy định số 766-QĐ/HVCTQG ngày 02-3-2022 của Giám đốc Học viện về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và chế độ làm việc của giảng viên:

  • Định mức giờ giảng chuẩn: Giám đốc Học viện thực hiện 10%; Phó Giám đốc Học viện, Phó Bí thư Đảng ủy Học viện, Giám đốc các Học viện trực thuộc thực hiện 15%; cấp trưởng/phó các đơn vị chức năng, viện nghiên cứu thực hiện 20%; Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy thực hiện 30%; giảng viên kiêm giảng không giữ chức vụ quản lý thực hiện 50%.
  • Định mức nghiên cứu khoa học: Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm (tương đương 586 giờ hành chính) cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.
  • Nghĩa vụ đi thực tế: Giảng viên hạng I, II, III (nam dưới 50 tuổi, nữ dưới 45 tuổi) phải đi nghiên cứu thực tế định kỳ hằng năm và đi thực tế, biệt phái dài hạn từ 6 đến 24 tháng tại địa phương hoặc cơ quan Trung ương (trừ trường hợp đã có trên 5 năm công tác thực tế trước khi về Học viện).

Kết quả khảo sát 300 học viên về chất lượng đội ngũ giảng viên:

  • 93% ý kiến đánh giá tốt về phẩm chất chính trị.
  • 92% ý kiến đánh giá tốt về đạo đức, lối sống, phong cách làm việc và ý thức tổ chức kỷ luật.
  • 92% đánh giá cao về trình độ chuyên môn.
  • 89% đánh giá cao về năng lực sư phạm.
  • 86% đánh giá cao về năng lực nghiên cứu khoa học.

Chương này cũng xác lập khái niệm và 4 nội dung cấu thành công tác đánh giá giảng viên của Học viện: (1) Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của Học viện về đánh giá giảng viên; (2) Tổ chức thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp, quy trình và nguyên tắc đánh giá; (3) Sự lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp giữa các đơn vị liên quan; (4) Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc đánh giá.

Chương 3: Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

Chương 3 trình bày các kết quả thực tế trong việc thực hiện công tác đánh giá giảng viên từ năm 2017 đến nay:

  • Ưu điểm: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được thực hiện thống nhất, đồng bộ; ban hành đầy đủ hệ thống văn bản hướng dẫn; quy trình đánh giá từng bước mở rộng tính dân chủ, công khai, gắn kết kết quả đánh giá với việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học thực tế.
  • Hạn chế: Việc quán triệt các văn bản ở một số đơn vị còn chưa sâu sắc; tiêu chí lượng hóa về chất lượng bài giảng và năng lực nghiên cứu có mặt chưa đồng bộ; hiện tượng nể nang, né tránh, ngại va chạm, bình bầu mang tính hình thức ở một số đơn vị cấp cơ sở vẫn chưa được khắc phục triệt để; kết quả đánh giá chưa thực sự tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác cán bộ.
  • Nguyên nhân: Phân tích nguyên nhân khách quan (đặc thù giảng dạy lý luận chính trị khó đo lường bằng các chỉ số thuần túy định lượng; áp lực khối lượng công việc) và nguyên nhân chủ quan (nhận thức và tinh thần trách nhiệm của một số cấp ủy, thủ trưởng đơn vị và bản thân giảng viên chưa cao; cơ chế giám sát chưa đủ nghiêm ngặt).
  • Bài học kinh nghiệm: Luận án đúc rút 3 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn:
    1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện và cấp ủy, thủ trưởng đơn vị là nhân tố quyết định chất lượng đánh giá giảng viên.
    2. Công tác đánh giá phải bám sát tình hình thực tiễn, gắn liền với yêu cầu của công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Học viện.
    3. Phải giữ vững nguyên tắc, chấp hành nghiêm quy trình, đồng thời vận dụng linh hoạt, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và điều kiện cụ thể của từng giảng viên.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp thực hiện tốt công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đến năm 2035

Chương 4 đưa ra các dự báo bối cảnh, xu thế phát triển giáo dục lý luận chính trị và xác định phương hướng nâng cao chất lượng công tác đánh giá giảng viên đến năm 2035. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp, tập trung vào 2 giải pháp trọng tâm:

  • Giải pháp 1: Cụ thể hóa, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn giảng viên: Rà soát, xây dựng khung tiêu chuẩn chức danh giảng viên phù hợp với từng hạng ngạch và vị trí việc làm; lượng hóa rõ ràng các tiêu chí về khối lượng và chất lượng giờ giảng, định mức sản phẩm nghiên cứu khoa học, thời gian nghiên cứu thực tế và rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức trường Đảng.
  • Giải pháp 2: Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá giảng viên: Kết hợp đa chiều giữa tự đánh giá, đánh giá của đồng nghiệp tại bộ môn/khoa, đánh giá từ học viên và đánh giá của cấp ủy, lãnh đạo quản lý; ứng dụng phần mềm quản lý và chuyển đổi số để lưu trữ, xử lý thông tin đánh giá minh bạch, hạn chế yếu tố cảm tính, nể nang.
  • Các giải pháp bổ trợ: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong Học viện; nâng cao năng lực tham mưu của cơ quan tổ chức cán bộ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện nghiêm chế độ khen thưởng, kỷ luật dựa trên kết quả đánh giá.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Xây dựng và làm rõ hệ thống lý luận về công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.
  • Luận giải rõ nội hàm, đặc điểm, vai trò và 4 nội dung cấu thành công tác đánh giá giảng viên trong mô hình cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác đánh giá giảng viên tại Học viện từ năm 2017 đến nay dựa trên nguồn dữ liệu hành chính và kết quả điều tra xã hội học với 600 phiếu khảo sát.
  • Đúc rút 3 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn công tác lãnh đạo, quản lý và tổ chức đánh giá giảng viên của Học viện.
  • Đề xuất hệ thống các phương hướng và giải pháp có giá trị thực tiễn đến năm 2035, đặc biệt là 2 giải pháp then chốt: cụ thể hóa, hoàn thiện bộ tiêu chuẩn giảng viên và đổi mới toàn diện nội dung, quy trình, phương pháp đánh giá theo hướng đa chiều, ứng dụng công nghệ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu trên đối tượng giảng viên cơ hữu và giảng viên tập sự của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong phạm vi thời gian từ năm 2017 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2024), chưa mở rộng khảo sát đối với lực lượng giảng viên thỉnh giảng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả áp dụng các quy định mới của Bộ Chính trị (như Quy định số 124-QĐ/TW) trong thực tế; nghiên cứu xây dựng phần mềm chuyên biệt và các chỉ số đo lường hiệu quả công việc chi tiết cho từng chuyên ngành lý luận chính trị đặc thù sau năm 2024.

Giá trị tham khảo

  • Đối với Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện và lãnh đạo các đơn vị trực thuộc: Luận án cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để phục vụ việc hoạch định chính sách cán bộ, sửa đổi các quy chế, quy định về đánh giá, phân loại và bổ nhiệm giảng viên trong hệ thống Học viện.
  • Đối với cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ: Cung cấp quy trình, phương pháp và khung tiêu chuẩn tham khảo để triển khai công tác đánh giá thường niên đạt tính chính xác và khách quan hơn.
  • Đối với các trường chính trị cấp tỉnh và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của hệ thống chính trị: Tài liệu tham khảo hữu ích trong việc xây dựng tiêu chuẩn và quy trình đánh giá đội ngũ giảng viên lý luận chính trị phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học: Tài liệu tham khảo về phương pháp luận và cách tiếp cận nghiên cứu công tác cán bộ thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như thế nào?
Luận án nghiên cứu công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay. Phạm vi không gian bao gồm Trung tâm Học viện và 5 đơn vị trực thuộc (Học viện Chính trị khu vực I, II, III, IV và Học viện Báo chí và Tuyên truyền), tập trung vào giảng viên cơ hữu và giảng viên tập sự. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng từ năm 2017 đến nay và các giải pháp đề xuất có giá trị vận dụng đến năm 2035.

2. Mẫu khảo sát thực tế của luận án được phân bổ như thế nào?
Tác giả đã tiến hành khảo sát 600 phiếu trong thời gian 1,5 tháng và xử lý bằng phần mềm Google Forms, bao gồm: 100 phiếu dành cho cán bộ lãnh đạo, quản lý (Trung tâm Học viện 25 phiếu, 5 đơn vị trực thuộc mỗi nơi 15 phiếu); 200 phiếu dành cho giảng viên (Trung tâm Học viện 50 phiếu, 5 đơn vị trực thuộc mỗi nơi 30 phiếu); và 300 phiếu dành cho học viên thuộc 6 hệ lớp đào tạo, bồi dưỡng khác nhau.

3. Tiêu chuẩn về thời gian nghiên cứu khoa học và định mức giảng dạy của giảng viên Học viện được quy định ra sao?
Theo Quy định số 766-QĐ/HVCTQG ngày 02-3-2022, giảng viên phải dành ít nhất 1/3 quỹ thời gian làm việc trong năm (tương đương 586 giờ hành chính) cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Về định mức giờ giảng chuẩn đối với cán bộ quản lý: Giám đốc Học viện thực hiện 10%; Phó Giám đốc Học viện và Giám đốc Học viện trực thuộc thực hiện 15%; Trưởng/Phó các đơn vị chức năng, viện nghiên cứu thực hiện 20%; Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy thực hiện 30%; và giảng viên kiêm giảng thực hiện 50%.

4. Những bài học kinh nghiệm chính được rút ra từ thực trạng công tác đánh giá giảng viên tại Học viện là gì?
Luận án đúc rút 3 bài học kinh nghiệm: (1) Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc và thủ trưởng đơn vị là nhân tố quyết định chất lượng đánh giá; (2) Đánh giá giảng viên phải xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với yêu cầu công tác cán bộ và nhiệm vụ chính trị của Học viện; (3) Chấp hành nghiêm nguyên tắc, quy trình đồng thời vận dụng linh hoạt, phù hợp với chức năng của từng đơn vị và điều kiện của giảng viên.

5. Luận án đề xuất những giải pháp then chốt nào nhằm thực hiện tốt công tác đánh giá giảng viên đến năm 2035?
Luận án tập trung vào 2 giải pháp trọng tâm: Cụ thể hóa, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn giảng viên (gắn với chức danh, vị trí việc làm và định mức định lượng rõ ràng) và tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình đánh giá giảng viên (kết hợp đánh giá đa chiều, dân chủ, công khai và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu đánh giá).

Kết luận

Luận án "Công tác đánh giá giảng viên của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh giai đoạn hiện nay" của tác giả Hà Thị Bích Thủy đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác đánh giá giảng viên lý luận chính trị dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước. Thông qua việc phân tích thực trạng giai đoạn 2017–2024 kết hợp điều tra xã hội học trên mẫu 600 phiếu, công trình đã chỉ rõ những kết quả đạt được, các mặt hạn chế, nguyên nhân và đúc rút 3 bài học kinh nghiệm sâu sắc. Hệ thống các phương hướng cùng 2 nhóm giải pháp trọng tâm được đề xuất có cơ sở khoa học vững chắc, đóng góp thiết thực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và hiệu quả công tác cán bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đến năm 2035.