phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu và đồ thị, kết cấu của luận văn gồm 4 2 z chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cở sở lý luận về quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam Chƣơng 4: Giải pháp tăng cƣờng quản lý tài chính tại Văn phòng Đài Tiếng Nói Việt Nam. 3 z Chƣơng1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀQUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu “Cơ chế quản lý tài chính tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ƣơng” của Th.s Nguyễn Thị Hạnh, năm 2015, trƣờng Đại học Kinh tế - ĐHQGHN. Đề tài nghiên cứu về cơ chế quản lý tài chính đặc thù, các nguồn kinh phí đảm bảo và các khoản cho chi cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu và vấn đề đổi mới cơ chế QLTC tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung Ƣơng. Đề tài chũng đƣa ra các kiến nghị đề xuất trong công tác hoàn thiện cơ chế QLTC đối với đơn vị sự nghiệp có thu. “Cơ chế tự chủ tài chính của những đơn vị sự nghiệp công lập”, Ths.
Nguyễn Thị Nguyệt, năm 2019, trƣờng Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp. Đề tài nghiên cứu về tầm quan trọng của nâng cao QLTC, mở rộng quyền tự chủ trong ĐVSNCL. Đề tài đánh giá thực trạng QLTC, cơ chế tự chủ tài chính tại các ĐVSNCL hiện nay. Cùng với đó, tác giả đƣa ra những tác dụng tích cực của việc nâng cao QLTC.
“Đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động khoa học xã hội ở Việt Nam”,ThS. Đỗ Diệu Hƣơng, năm 2018, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam Đề tài nghiên cứu về sự cần thiết phải tiến hành đổi mới chính sách và cơ chế QLTC trong quá trình phát triển kinh tế thị trƣờng tại Việt Nam. Đề tài đề xuất định hƣớng và giải pháp nhằm đổi mới chính sách và cơ chế QLTCcho các ĐVSNCL hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ. “Hoàn thiện quản lý tài chính tại các trƣờng đại học công lập tự chủ tài chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của Th.s Nguyễn Tấn Lƣợng, 4 z năm 2011, trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu: Tác giả đã đƣa ra các nội dung quản lý tài chính trong các trƣờng đại học công lập nhƣ là: - Quản lý các nguồn lực tài chính; - Quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính; - Quản lý trích lập và sử dụng các quỹ. Thêm vào đó, tác giả còn đƣa ra đƣợc kinh nghiệm QLTC tại một số trƣờng đại học trên thế giới. Từ thực trạng trong việc QLTC tại các trƣờng đại học công lập trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế QLTC nhƣ sau: - Hoàn thiện phƣơng thức giao ngân sách cho giáo dục đại học; - Nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác QLTC nhƣ thƣờng xuyên cho đi bồi dƣỡng các khóa nghiệp vụ nâng cao, tham quan học hỏi kinh nghiệm QLTC của các trƣờng đại học trên thế giới; - Tăng cƣờng công tác hạch toán kế toán đi đôi với công khai tài chính.
Qua nghiên cứu luận văn này, tôi tham khảo đƣợc cách phân tích thực trạng QLTC tại đơn vị có nguồn thu từ ngân sách nhà nƣớc. Từ đó, đánh giá cơ cấu phân bổ ngân sách trong đơn vị thực sự hợp lý hay không và đƣa ra các kiến nghị. “Quản lý tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học“, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hƣơng, năm 2014. Luận án đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản về QLTC đối với các ĐVSNCL nói chung và các trƣờng đại học công lập nói riêng.
Luận án phân tích đánh giá thực trạng QLTC tại Đại học Quốc gia Hà Nội và đề xuất các định hƣớng, giải pháp nâng cao hiệu quả QLTC tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học. Các công trình nghiên cứu nói trên đều nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau về tài chính công, quản lý tài chính công, cải cách tài chính công; 5 z chính sách và cơ chế quản lý tài chính công trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Mỗi đơn vị khác nhau lại có phƣơng thức QLTC khác nhau. Chẳng hạn nhƣ, QLTC trong doanh nghiệp nhà nƣớc lại khác với QLTC trong cơ quan hành chính nhà nƣớc.
Hay QLTC trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc cũng lại có sự khác biệt rõ rệt với QLTC trong ĐVSNCL. Do đó, các đơn vị cần có những giải pháp QLTC cho riêng mình, phụ thuộc vào đặc thù của từng đơn vị, điều kiện môi trƣờng, các yếu tố văn hóa, xã hội ở địa phƣơng… 1. Những vấn đề chung về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm, đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm: Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị đƣợc cơ quan nhà có thẩm quyền quyết định thành lập, để thực hiện một số chức năng nhiệm vụ do Nhà nƣớc giao, trong đó chủ yếu là cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Trong quá trình hoạt động, ĐVSNCL đƣợc Nhà nƣớc cho phép thu một số loại phí, lệ phí, đƣợc tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. Đơn vị sự nghiệp công lập có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Hoạt động của ĐVSNCL có những điểm khác với cơ quan hành chính nhà nƣớc.
Cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc của mình, cung ứng các dịch vụ hành chính công. Đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nƣớc với nhân dân và chỉ có Nhà nƣớc mới có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó. Nhà nƣớc với tƣ cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn ngƣời dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nƣớc dƣới hình thức thuế. Quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trƣờng một cách đầy đủ: ngƣời sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó khi hƣởng thụ.
6 z Trong khi đó, do dịch vụ của ĐVSNCL cung ứng có thể có sự tham gia cạnh tranh của khu vực tƣ nhân nên các đơn vị này đƣợc phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình, ngƣời sử dụng dịch vụ có thể phải chi trả cho việc sử dụng dịch vụ nên hình thành quan hệ mua bán, trao đổi. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Hoạt động của các ĐVSNCL có những đặc trƣng cơ bản sau đây: - Hoạt động sự nghiệp có xu hƣớng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cộng: Hoạt động sự nghiệp chủ yếu hƣớng tới nâng cao kiến thức, kỹ năng, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật. Những kết quả đó thƣờng rất khó đánh giá đƣợc giá trị bằng tiền, nhƣng lại mang ý nghĩa góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế - xã hội nói chung, tăng năng lực sản xuất của đất nƣớc, nâng cao chất lƣợng đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác. Hơn nữa, những lợi ích đó không chỉ phục vụ cho ngƣời hƣởng thụ trực tiếp mà còn dành cho cả những ngƣời khác.
Nhiều sản phẩm, dịch vụ của các ĐVSNCL có giá trị sử dụng tăng thêm khi ngƣời sử dụng tăng lên trong khi chi phí không thay đổi, chẳng hạn nhƣ hệ thống chiếu sáng công cộng, các chƣơng trình phát thanh, truyền hình. Các hàng hóa, dịch vụ công cộng một khi đã đƣợc cung cấp ra thì thƣờng khó hoặc không thể ngăn cản một hoặc một số ngƣời nào đó tiếp cận những hàng hóa, dịch vụ đó, nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể tiếp cận với chúng nếu muốn. Do vậy, nhà nƣớc cần phải đứng ra cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng với số lƣợng và chất lƣợng ngày một cao hơn để đảm bảo công bằng và tiến bộ cho xã hội. Nhờ những sản phẩm, dịch vụ công cộng do hoạt 7 z động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất của xã hội đƣợc thuận lợi và hiệu quả hơn.
Hoạt động sự nghiệp y tế, giáo dục - đào tạo, thể dục - thể thao giúp nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân. Hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa, văn nghệ. mang lại những hiểu biết cho ngƣời dân về tự nhiên, xã hội, làm phong phú thêm đời sống tinh thần, góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống. - Hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp.
Trong con mắt của các nhà quản lý tài chính, chi tiêu của các đơn vị này là mất đi, không thu hồi lại đƣợc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định. Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN đƣợc nhà nƣớc trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu hoặc đƣợc bổ sung kinh phí từ các nguồn khác. - Hoạt động của các ĐVSNCL rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của nhà nƣớc đối với nền kinh tế thị trƣờng. Mục đích hoạt động của các ĐVNS là phục vụ lợi ích của xã hội.
Trong quá trình cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSNCL đƣợc phép tạo lập nguồn thu thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ công do nhà nƣớc quy định để bổ sung nguồn kinh phí trang trải cho các khoản chi tiêu. Quản lý tài chính ở các ĐVSNCL phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của nhà nƣớc. Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các ĐVSNCL, nhà nƣớc áp dụng các cơ chế tài chính thích hợp để ĐVSNCL thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong xu hƣớng cải cách khu vực công hiện nay, nhà nƣớc thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSNCL theo hƣớng nâng cao quyền tự chủ tài chính của họ nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ công phục vụ xã hội.