Chương 1: Giới thiệu Trình bày về cơ sở hình thành đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa đề tài nghiên cứu và kết cấu bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận Giới thiệu khái quát các lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu. Tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài này trong chương 2,làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tế. Chương 3: Mô hình phân tích Trình bày khung phân tích, mô hình nghiên cứu, cỡ mẫu, các đặc điểm của mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, quy trình thực hiện nghiên cứu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày thực trạng biến động giá căn hộ tại thành phố Hồ Chí Minh trong trong giai đoạn Quý 4/2006 – Quý 2/2015, những kết quả nghiên cứu đạt được tương ứng với từng mục tiêu đề ra của nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày những kết luận rút ra từ nghiên cứu, những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất kiến nghị cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý luận của nghiên cứu liên quan đến căn hộ để ở,tăng trưởng tín dụng và mối quan hệ giữa giá căn hộ và tăng trưởng tín dụng. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành lược khảo các tài liệu nghiên cứu có liên quan để làm cơ sở đề xuất khung phân tích cho nghiên cứu.
Do đó, chương này được tổ chức thành các phần sau: Tổng quan về căn hộ để ở (2.1), tăng trưởng tín dụng (2.2), bằng chứng về mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và giá căn hộ (2.3), lược khảo các nghiên cứu liên quan (2. Tổng quan về căn hộ để ở. Khái niệm căn hộ để ở. Khái niệm bất động sản.
Có nhiều khái niệm khác nhau về bất động sản, nhưng phần lớn đều thống nhất rằng bất động sản là tài sản không di dời được, bao gồm yếu tố đất đai, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn vững chắc, lâu bền với đất đai hoặc công trình xây dựng. Theo Hoàng Văn Cường và các tác giả (2006): “Bất động sản là những tài sản vật chất không thể di dời, tồn tại và ổn định lâu dài”. Theo từ điển trực tuyến Oxford: “Bất động sản là tài sản dưới dạng đất đai và công trình xây dựng”. Theo tổ chức Economic Adventure (2009): “Bất động sản là đất đai bao gồm tất cảcác nguồn tài nguyên thiên nhiên và công trình xây dựng vĩnh viễn gắn liền với đất”.
Như vậy, theo các quan niệm trên, bất động sản bao gồm hai chủng loại chủ yếu là đất đai và các công trình xây dựng trên đất. Khái niệm căn hộ để ở. Bất động sản căn hộ để ở là một loại hình của bất động sản, có chức năng để ở hoặc có nhiều chức năng trong đó ít nhất một chức năng là để ở. Bất động sản căn hộ để ở bao gồm:đất trống phục vụ cho mục đích xây dựng nhà ở; nhà ở có công TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trình xây dựng gắn liền với đất có chức năng phục vụ cho mục đích để ở hoặc ít nhất một chức năng là để ở.
Khái niệm trên phản ánh được thực tế là nhiều công trình xây dựng, chẳng hạn như nhà phố, vừa có chức năng để ở, vừa có chức năng thương nghiệp dưới hình thức một cửa hàng buôn bán hoặc một văn phòng dịch vụ. Ngoài ra, các lô đất trống có mục đích để xây dựng nhà ở, là một bộ phận không thể thiếu của các giao dịch trên thị trường căn hộ và có thể chuyển thành nhà ở chỉ sau một thời gian xây dựng nhất định. Khái niệm trên cũng bao quát được đầy đủ phạm vi các hàng hóa giao dịch trên thị trường căn hộ có chức năng phục vụ để ở. Phân loại bất động sản căn hộ để ở.
Theo Đoàn Văn Trường (2006), có nhiều tiêu thức để phân loại bất động sản căn hộ để ở, song đa phần đều phân thành 2 nhóm: nhà ở riêng lẻ và nhà chung cư Căn cứ vào các đặc điểm vật chất, kinh tế - kỹ thuật của bất động sản, Anna Scherbina phân loại bất động sản căn hộ để ở như sau: Đối với nhóm nhà ở riêng lẻ, bao gồm: + Nhà liên kế, nhà phố: đây là loại nhà có chung 2 vách. Các căn nhà được đặt cạnh nhau, xếp thành từng dãy và có thể xây dựng hàng loạt, tiết kiệm đất xây dựng và khai thác không gian từ mặt đất trở lên. + Nhà biệt thự: có sân vườn, hàng rào bao quanh; kết cấu chịu lực khung, sàn, tường bằng bê tông cốt thép hoặc tường gạch; bao che nhà và tường ngăn cách các phòng bằng bê tông cốt thép hoặc xây gạch; mái bằng hoặc mái ngói, có hệ thống cách âm và cách nhiệt tốt; vật liệu hoàn thiện; tiện nghi sinh hoạt đầy đủ tiện dùng, chất lượng tốt. + Nhà vườn: là các nhà xây dựng đơn lẻ, hoặc song lập có vườn bao quanh.
Mật độ xây dựng trên lô đất phải bảo đảm 50 - 60%. Mặt tiền của ngôi nhà bắt buộc phải lùi lại so với hàng rào một khoảng ít nhất là 2,5m. Đối với nhóm nhà ở chung cư, bao gồm: + Chung cư hạng sang: có vị trí rất đắc địa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật nội bộ hoàn chỉnh, thiết kế sang trọng, nội thất cao cấp, dịch vụ quản lý hoàn hảo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 + Chung cư cao cấp: có vị trí tương đối đắc địa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật nội bộ tương đối hoàn chỉnh, thiết kế khá sang trọng, nội thất cao cấp, dịch vụ quản lý khá hoàn hảo.
+ Chung cư hạng trung: vị trí tương đối thuận lợi, hệ thống hạ tầng kỹ thuật nội bộ tương đối hoàn chỉnh, thiết kế ở mức trung bình, nội thất trung bình, dịch vụ quản lý tương đối khá. + Chung cư bình dân: vị trí tương đối xa trung tâm; hạ tầng kỹ thuật ở mức tối thiểu, thiết kế đơn giản, nội thất rẻ tiền, dịch vụ quản lý đạt yêu cầu. Căn cứ vào thiết kế và độ bền, Bộ Xây dựng (1993) phân cấp nhà ở thành 4 cấpsau: + Nhà cấp 1 bảo đảm có phòng ngủ, phòng ăn, phòng tiếp khách. Bếp và nhà vệ sinh phải riêng biệt và cùng tầng với căn hộ.
Vật liệu hoàn thiện phải là trát ốp lát, trang trí cao cấp. Khung cột, tường chịu lực làm bằng vật liệu không cháy. Nhà cấp 1 có niên hạn sử dụng từ 100 năm trở lên. + Nhà cấp 2 có chất lượng sử dụng tương đối cao.
Các thiết bị và trang trí nội thất, điện nước, vệ sinh kém hơn nhà cấp 1. Khung cột, tường, sàn và mái che cũng bằng vật liệu không cháy. Nhà cấp 2 có niên hạn sử dụng từ 50 năm trở lên. + Nhà cấp 3 có chất lượng sử dụng trung bình, từ chất lượng hoàn thiện (trang trí nội thất) đến mức độ trang thiết bị - kỹ thuật vệ sinh.
Khung cột, tường, sàn và mái che của nhà cấp 3 làm bằng vật liệu khó cháy. Nhà cấp 3 có niên hạn sử dụng từ 20 năm trở lên. + Nhà cấp 4 thường chỉ có một, hai phòng, sử dụng chung bếp, nhà vệ sinh. Chất lượng hoàn thiện bên trong, bên ngoài ngôi nhà ở mức thấp: trát vữa, quét vôi không ốp lát.
Khung cột, tường chịu lực sử dụng vật liệu khó cháy có giới hạn chịu lửa đến 0,5 giờ. Mái, trần làm bằng vật liệu dễ cháy, mái fibrô, tôn. Nhà cấp 4 có niên hạn sử dụng dưới 20 năm. Căn cứ vào vật liệu xây dựng và độ bền, Tổng cục Thống kê (2013) chia nhà ở thành 4 loại như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 + Nhà kiên cố: có cả ba bộ phận cột trụ, tường và mái đều làm bằng vật liệu bền chắc.
+ Nhà bán kiên cố: có hai trong ba bộ phận làm bằng vật liệu bền chắc. + Nhà thiếu kiên cố: có một trong ba bộ phận làm bằng vật liệu bền chắc. + Nhà đơn sơ: có cả ba bộ phận đều làm bằng vật liệu thiếu bền chắc. Cung cầu và giá cả trên thị trường bất động sản căn hộ để ở Cầu bất động sản căn hộ để ở Theo David Begg (2005), cầu là số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được.
Như vậy, cầu bất động sản căn hộ để ở là tổng số lượng hàng hóa bất động sản căn hộ để ở, bao gồm đất nền được phép xây dựng nhà ở và nhà ở hiện hữu gắn liền với đất mà người mua sẵn sàng chấp nhận và có khả năng thanh toán ứng với mỗi mức giá nhất định trên thị trường. Cầu bất động sản căn hộ để ở phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: Sự gia tăng dân số: Sự gia tăng dân số với tốc độ cao thường xảy ra ở những vùng có quá trình đô thị hóa nhanh. Sự gia tăng dân số một mặt làm tăng số nhân khẩu trong một gia đình, mặt khác làm tăng số hộ gia đình độc lập, qua đó gây áp lực lớn làm gia tăng nhu cầu và cầu về nhà ở và đất ở(George H.Miller and Katy R. Tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế góp phần làm tăng thu nhập của dân cư, do đó có tác dụng chuyển hóa một lượng lớn nhu cầu trở thành cầu bất động sản căn hộ để ở.
Khi đời sống của con người ngày càng tăng cao, người dân không chỉ có nhu cầu mở rộng không gian sống mà còn có nhu cầu được ở một nơi đẹp hơn, hiện đại và tiện nghi hơn, đó là các nhu cầu nhà ở tiêu dùng thực sự. Ngoài ra, sự tăng trưởng kinh tế thường làm cho giá căn hộ tăng lên, qua đó kích thích nhu cầu đầu cơ, gây áp lực lên giá cả căn hộ trên thị trường (Đoàn Văn Trường, 2006). Quy hoạch đô thị: Quy hoạch đô thị được thực hiện thông qua quy hoạch sử dụng đất đai, các đề án và kế hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng có tác động trực tiếp tới cầu, nhất là cầu đầu tư bất động sản căn hộ để ở(Cục Quản lý nhà và Thị trường BĐS - Bộ Xây dựng, 2009). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Chính sách đất đai và nhà ở: Các chính sách về thuế đất đai và nhà ở, điều kiện tham gia thị trường nhà ở, điều kiện và thủ tục xây dựng nhà ở, điều kiện chuyển nhượng căn hộ và thủ tục pháp lý,.