CHƯƠNG 1.1 Tín dụng Theo Ngân hàng Nhà nước (2015), tín dụng là mối quan hệ vay - cho vay giữa các cá nhân và tô chức dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia, bời nó giúp thúc đây sự phát triên của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư. Tín dụng cũng góp phần cân bằng giĩra cung và cầu tiền tệ, ôn định giá cả và duy trì sự ôn định cùa hệ thống tài chính. Tín dụng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia, bời nó giúp thúc đây sự phát triên của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư.
Tín dụng cũng góp phần cân bằng giữa cung và cầu tiền tệ, ôn định giá cả và duy trì sự ôn định của hệ thống tài chính. Tín dụng có thê được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, nlưr thời hạn, đổi tượng, mục đích, nguồn gốc, hình thức và lãi suất. Mỗi loại tín dụng có những đặc diêm và ứng dụng riêng biệt.2 Tăng trưởng tín dụng Theo nghiên círu cùa Lane & McQuade (2014) thì tăng trường tín dụng là một sự gia tăng trong giá trị dư nợ cho vay trong khu vực cá nhân và các tô chức. Một khi quy mô tín dụng gia tăng, khách hàng có thê vay tiền được nhiều hơn đê sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Ngoài ra, Nguyền Thùy Dương (2011); Nguyền Thanh Nhàn & cộng sự (2012) đã cho thấy, tăng trưởng tín dụng là việc các ngân hàng thương mại áp dụng các chính sách nhằm mục đích tăng nguồn vốn huy động, cung ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào các tô chức kinh tế, cá nhân, những người có nhu cầu vay vốn; từ đó từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần, thương hiệu trên thị trường. Như vậy, tăng trường tín dụng là sự tăng lên của các khoản tín dụng do các ngân hàng cung cấp cho các tô chức và các cá nhân trong nền kinh tế. Việc ngân hàng gia tăng các khoản tín dụng là điều rất cần thiết đê đê phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng về vốn của các tô chức và các cá nhân trong tiến trình phát triên của xã hội. Theo góc độ tính toán, tăng trường tín dụng là tỳ lệ phần trăm tăng lên hoặc giảm xuống của giá trị tiền tệ mà ngân hàng cung cấp cho các cá nhân, tô chức khác cùa 1 mình trong nền kinh tế ờ kỳ này với kỳ trước.
Neu tín dụng tăng trưởng dương, thì nền kinh tế có thêm lượng cung tiền tương ứng được lưu thông dưới dạng bút tệ. Ngược lại, tín dụng tăng trưởng âm biêu hiện một xu hướng eo hẹp hơn trong dòng cung tiền kéo theo tác động nhất định đến kinh te (Malgorzata & Batosz, 2016; Brad, 2016).3 Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ cùa người đi vay đối với người cho vay khi đến thời hạn thanh toán. Bất kỳ hợp đồng thanh toán nào cũng có rủi ro tín dụng và người cho vay sẽ phải chấp nhận chịu rủi ro này. Khái niệm rủi ro tín dụng thường được sữ dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng và các công ty tài chính (Ngân hàng Nhà mrớc, 2010).
Các khoản vay thường phát sinh từ việc hỗ trợ các khoản đầu tư kinh doanh và phát sinh do các khoản chi tiêu sinh hoạt tò các gia đình. Neu doanh nghiệp hay hộ gia đình không đù khả năng đê thanh toán các khoản ấy thì các khoản vay này trở thành nợ xấu được ghi nhận tại hệ thống của ngân hàng. Thuật ngữ nợ xẩu ngày càng được biết đến rộng rãi hơn, có thê hiêu với các hình thức khác như là vỡ nợ và tín dụng kém. Tín dụng kém là các khoản vay không trả được từ đó hình thành các rủi ro tài tài chính trong các báo cáo tài chính.
Trong khi đó, các khoản vay không được hoàn trả và vỡ nợ được quy định cân thận tại đề mục cho vay (Ngân hàng Trung ương châu Ầu năm 2016).4 Hiệu quả hoạt động tài chính Hiệu quả hoạt động tài chính là mức độ mà doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tài chính cùa mình đê tạo ra lợi nhuận và giá trị cho cô đông. Chi tiêu này được đánh giá bằng các chi tiêu như: tỷ suất sinh lời trên vốn chù sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tông tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), biên lợi nhuận gộp, biên lợi nhuận ròng. Từ đó, hiệu quả hoạt động tài chính phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc quàn lý chi phí, tối iru hóa doanh thu, duy trì tính thanh khoản và đảm bảo sự bền vững cùa hoạt động kinh doanh. Hiệu quả hoạt động tài chính có ảnh hưởng lớn đến giá trị của doanh nghiệp và sự hấp dẫn cùa cô phiếu.
Một doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động tài chính cao sẽ có khả năng sinh lời cao, phát triên bền vững, cạnh tranh tốt hơn và thu hút được sự quan 2 tâm của các nhà đầu tư. Ngược lại, một doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động tài chính thấp sẽ gặp khó khăn trong việc duy tri hoạt động, chi trả nợ, phát triển thị trường và giĩr được niềm tin của các bên liên quan (John & Sons, 2020).5 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động tài chính 1.1 Tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng là một yếu tổ quan trọng ảnh hường đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, tăng trường tín dụng cũng tiềm ân nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng, khiến ngân hàng phải đổi mặt với tôn thất và suy giảm lợi nhuận. Do đó, việc quản lý rủi ro tín dụng một cách hiệu quả là điều cần thiết đê duy trì sự ôn định và bền vững của ngân hàng.
Theo nghiên ciru cùa Louzis & cộng sự (2012), tỳ lệ nợ xấu, tỷ lệ chi phí hiệu quả và tỷ lệ thanh khoản có moi quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng và được đo bằng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sờ hữu (ROE) và tỳ suất sinh lời trên tông tài sản (ROA). Ngược lại, tỳ lệ bảo đảm vốn và tỳ lệ lãi suất cho vay trung bình có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động cùa ngân hàng. Từ gốc độ này, các tác giả khăng định rằng lợi nhuận thấp có thể biêu hiện kỳ năng và năng lực quản lý kém liên quan đến chiến hrợc cho vay. Ung hộ quan diêm nay, Ghosh (2015) thực hiện phân tích các ngân hàng trên 50 quốc gia ờ Mỳ và đã đặt ra rằng lợi nhuận cao làm giảm rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Òng bô sung rằng các ngân hàng có lợi nhuận cao ít có khả năng rơi vào rủi ro. Ngoài ra, sử dụng dữ liệu tông hợp trên một bảng điều khiên cùa 14 quốc gia châu Âu trong giai đoạn từ 2000 đến 2008, Makri & cộng sự (2014) ghi nhận rằng đê bù lại cho những thiệt hại trước đó, các ngân hàng có lợi nhuận thấp nhtĩng hoạt động tín dụng cao có nguy cơ rủi ro tín dụng cao. Tuy nhiên, nhà học giả khác lại tìm thấy rằng lợi nhuận cao lại làm tăng rủi ro tín dụng. Nhir Rajan (1994) cho rằng lợi nhuận có thê làm tôn hại chất hrợng của các khoản vay khi ngân hàng thay đôi chính sách tín dụng của mình.
Nói cách khác, ngân hàng có thê thao túng thị trường bằng khả năng đánh giá tín dụng vượt trội cùa mình thông qua việc che giấu mức độ cùa các khoản nợ xấu của mình. Điều này có thê được thực hiện thông qua việc gia hạn các điều khoản của các khoản vay, gia hạn hạn mức tín dụng cùa các khách hàng không có khả năng trả nợ đê những người không có khả 3 năng trả nợ này không bị công nhận là người vỡ nợ và làm nới lỏng các điều khoản đê giới hạn các trường hợp vỡ nợ. Vì the, tăng trưởng tín dụng không phải luôn mang lại lợi ích cho ngân hàng, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như chất lượng tín dụng, hiệu quả hoạt động và khả năng thanh toán. Ngân hàng cần có những chiến lược và chính sách phù hợp đê kiêm soát rủi ro tín dụng và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, việc tăng trường tín dụng cũng tác động đến rủi ro tín dụng của ngân hàng. Các nhà kinh te học và các nhà học thuật luôn tự hòi liệu ngân hàng có thê phát triên mà không làm tăng tính rủi ro của mình (Foos & các cộng sự, 2010). Thực vậy, trong khi tìm kiếm các yếu tố gây ra khủng hoảng tài chính phụ thuộc, nghiên cihi thực nghiệm đã tìm thấy lý do chính đáng đê tin rằng tăng trưởng tín dụng nhanh chóng là một yếu tổ dự báo chính của sự sụp đô cùa ngân hàng (Jin & các cộng sự, 2011). Trong bối cảnh này, các nhà học giả đã thu hẹp chủ đề đê nghiên círu mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng.
Một trong những nghiên cihi sớm nhất trong lĩnh vực này được khởi xướng bởi Keeton & Morris (1987), khi các tác giả nghiên cím một mầu gồm 2.470 ngân hàng ở Mỹ trong giai đoạn từ 1978 đến 1985. Các tác giả liên kết tăng trường tín dụng nhanh chóng đồng nghĩa với rủi ro tín dụng cao hơn. Khi ngân hàng thay đôi nguồn cung cùa mình, tiêu chuẩn sàng lọc tín dụng bị giảm và do đó, chất lượng thâm định tín dụng suy giảm (Keeton & Morris, 1987). Keeton (1999) còn lý luận rằng trong việc tìm kiếm một danh mục cho vay mở rộng, ngân hàng sẽ hoặc giảm lãi suất tính phí hoặc hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng của mình.
Foos & cộng sự (2010) báo cáo kết quả thuyết phục kill điều tra 16 quốc gia trong giai đoạn tò 1997 đến 2007. Thực tế, do các khoản lỗ về các khoản vay được cấp không đầy đủ có thê không được thực hiện kịp thời, ngân hàng có thê quan tâm đến việc tăng lợi nhuận ngắn hạn thông qua việc nới lỏng tiêu chuân tín dụng, nhưng phải trả giá bằng những khoản lỗ nặng trong ưrơng lai. Salas & Saurina (2002), sau khi nghiên círu các ngân hàng Tây Ban Nha trong giai đoạn ư'r 1985 đến 1997 đã ghi nhận đirợc rằng mờ rộng tín dụng là một trong những nguyên nhân trực tiếp cùa các khoản nợ xấu. Mối quan hệ thuận này có thê được tiếp cận ưì nhiều góc độ khác nhau.