Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ĐẾ ĐỀ TÀI 2. Khái niệm tín dụng và tăng trưởng tín dụng Theo Saunders (1999) thì “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ tín dụng (QHTD) được phát sinh ngay từ khi chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Như vậy, một giao dịch chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một giá trị (tiền/tài sản) của người này cho người kia với cam kết thời gian hoàn lại và điều kiện nhất định được gọi là tín dụng.
Có thể phân biệt đơn giản hai chủ thể trên như sau: - Người chuyển nhượng là người cho vay - Người nhận chuyển nhượng là người vay Mối quan hệ giữa người cho vay và người vay gọi là quan hệ tín dụng. Thực tế có nhiều chủ thể tham gia vào QHTD, theo PGS TS Phạm Ngọc Dũng và PGS. TS Đinh Xuân Hạng (2011) dựa vào chủ thể trong quan hệ tín dụng (QHTD) được chia thành hình thức tín dụng sau: - Tín dụng thương mại: Là QHTD giữa các doanh nghiệp được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng hóa. - Tín dụng ngân hàng: Là QHTD giữa ngân hàng và các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội.
7 - Tín dụng nhà nước: Là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội. Nhà nước vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Tín dụng là một trong những sản phẩm chính của ngành ngân hàng. Trong những năm trước đây, tín dụng góp phần đáng kê trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng.
Tăng trưởng tín dụng được đề cập trong nghiên cứu của Lane và cộng sự (2014) như là “một sự gia tăng trong giá trị dư nợ cho vay trong khu vực tư nhân (bao gồm cả đối tượng là các cá nhân và các tổ chức). Một khi quy mô tín dụng gia tăng, khách hàng có thể vay mượn được nhiều hơn để sử dụng cho các mục đích chi tiêu, đầu tư và kinh doanh”. Theo Tan và cộng sự (2012) thì “tăng trưởng tín dụng là việc các ngân hàng thương mại sử dụng chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân,… có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường”. Theo đó, tăng trưởng tín dụng được hiểu là sự tăng lên của các khoản tín dụng do hệ thống ngân hàng cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân trong nền kinh tế.
Việc ngân hàng gia tăng các khoản tín dụng có ý nghĩa quan trọng và là điều rất cần thiết để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng về vốn của các tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân trong quá trình phát triển của toàn xã hội. Vai trò của tăng trưởng tín dụng - Hoạt động tín dụng đảm bảo nhu cầu về vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng cho các cá nhân trong nền kinh tế. Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp. Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục.
Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện cung cấp vốn cho đầu tư phát triển. Trong nền kinh 8 tế sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và cố định của các doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư đi vào sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. - Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, mà vốn này nằm phân tán ở khắp mọi nơi, trong tay các nhà doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước và của cá nhân, trên cơ sở đó cho các đơn vị kinh tế vay. Tuy nhiên, quá trình đầu tư tín dụng không phải rải đều cho mọi chủ thể có nhu cầu, mà việc đầu tư được tiến hành một cách tập trung, chủ yếu là cho các doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Đầu tư tập trung là quá trình tất yếu, vừa đảm bảo tránh rủi ro tín dụng, vừa thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm 2.
Các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài Chủ đề về tăng trưởng tín dụng đã được không ít các nghiên cứu trong và ngoài nước khai thác, trong bài luận án này, tác giả mô tả tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm đi trước, từ đó làm căn cứ dẫn chứng xây dựng giả thuyết nghiên cứu cũng như mô hình nghiên cứu. Không ít bằng chứng thực nghiệm đã phát hiện ra các yếu tố quyết định khác nhau đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng và đưa ra các kết quả tùy theo mẫu khai thác và giai đoạn nghiên cứu. Ví dụ, Cucinelli (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ thời gian giữa hành vi cho vay của ngân hàng và rủi ro tín dụng ở Ý, tập trung vào tác động của nợ xấu và dự phòng rủi ro cho vay. Tác giả nhận thấy rủi ro tín dụng của những năm trước có tác động tiêu cực đến hành vi cho vay của ngân hàng.
Tập trung vào một nhóm lớn các nước đang phát triển và công nghiệp hóa không chuyển đổi, Cottarelli và cộng sự (2005) cho thấy cho vay ngân hàng có quan hệ thuận chiều với GDP bình 9 quân đầu người và tự do hóa tài chính nhưng lại bị ảnh hưởng tiêu cực bởi nợ công. Sử dụng một mẫu các ngân hàng của châu Âu, Calza và cộng sự (2001) cho thấy tín dụng dài hạn trong nước có quan hệ thuận chiều với tăng trưởng GDP thực, nhưng lại bị ảnh hưởng tiêu cực bởi lãi suất thực ngắn hạn và dài hạn. Égert và cộng sự. (2006) đã điều tra các yếu tố quyết định tín dụng trong nước đối với khu vực tư nhân tính theo tỷ lệ phần trăm GDP ở 11 quốc gia châu Âu mới nổi.
Kết quả của họ chỉ ra rằng tín dụng cho khu vực công, lãi suất danh nghĩa, tỷ lệ lạm phát và chênh lệch giữa lãi suất cho vay và tiền gửi là những yếu tố quyết định chính đến tăng trưởng tín dụng trong CEE- 5, trong khi GDP bình quân đầu người là yếu tố quan trọng duy nhất đối với Baltic và Các nước Đông Nam Âu. Elekdag và Han (2012) đã phân tích các động lực chính của tăng trưởng tín dụng ở 10 nước châu Á mới nổi trong giai đoạn từ quý 1 năm 1989 – quý 4 năm 2010. Họ cho thấy tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn thúc đẩy ổn định tài chính, làm giảm vai trò của các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến động lực tín dụng trong nước. Magud và cộng sự (2012) đã phân tích tác động của sự linh hoạt tỷ giá hối đoái đối với thị trường tín dụng tại 25 thị trường mới nổi ở Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ Latinh.
Họ tiết lộ rằng tín dụng ngân hàng tăng trưởng nhanh hơn ở các nền kinh tế có chế độ tỷ giá hối đoái kém linh hoạt hơn. Guo và Stepanyan (2011) đã xem xét những thay đổi trong tín dụng ngân hàng trên 38 nền kinh tế thị trường mới nổi. Họ nhận thấy rằng tăng trưởng tiền gửi trong nước, nợ nội địa, tăng trưởng kinh tế mạnh hơn và lạm phát cao làm tăng nhu cầu tín dụng và dẫn đến tăng trưởng tín dụng cao hơn. Hơn nữa, họ phát hiện ra rằng các điều kiện tiền tệ nới lỏng (trong nước hoặc toàn cầu) dẫn đến nhiều tín dụng hơn và một khu vực ngân hàng lành mạnh có xu hướng cấp nhiều tín dụng hơn một khu vực không lành mạnh.
Gozgor (2014) đã xem xét các yếu tố quyết định mở rộng tín dụng trong nước trên 24 nền kinh tế thị trường mới nổi trong giai đoạn 2000- 2011. Họ đã sử dụng kỹ thuật trên dữ liệu bảng để điều tra tác động ngắn hạn và dài hạn của nhu cầu nội địa và các yếu tố bên ngoài, cán cân đối ngoại, độ mở thương mại 10 đối với tín dụng trong nước. Tác giả nhận thấy rằng chính sách tiền tệ nới lỏng trên thị trường trong nước, chênh lệch giữa lãi suất cho vay trong nước và thế giới, và độ mở thương mại thực tế góp phần tích cực vào mức tín dụng trong nước. Chen và Wu (2014) đã kiểm tra tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng ở các thị trường mới nổi trước, trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008-09.
Các tác giả nhận thấy rằng chính sách tiền tệ nới lỏng dẫn đến tăng trưởng tín dụng cao hơn, và các ngân hàng ở châu Mỹ Latinh và châu Á phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn bán lẻ có tăng trưởng tín dụng cao hơn. Hơn nữa, họ nhận thấy rằng các ngân hàng có vốn hóa tốt hơn, các ngân hàng có tài sản thanh khoản cao hơn và các ngân hàng ở các quốc gia có quy định ngân hàng mạnh hơn có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn trong thời kỳ khủng hoảng. Oluitan (2013) đã nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bằng cách nghiên cứu dữ liệu của 33 quốc gia châu Phi trong giai đoạn 1970-2006.