phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tân Phú giai đoạn 2009 – 2012. Chƣơng 3: Giải pháp tăng thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Tân Phú. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về dịch vụ Trên phạm vi toàn cầu, hiện nay chưa có một định nghĩa hay khái niệm thống nhất về dịch vụ. Dịch vụ trong nền kinh tế được xác định theo nhiều khía cạnh khác nhau: Ở góc độ chung nhất về thống kê kinh tế, dịch vụ được coi là một lĩnh vực kinh tế không bao gồm ngành nông nghiệp và công nghiệp. Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa - dịch vụ. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tại trang 167 giải thích: Dịch vụ là hoạt động phục vụ, nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.[3] Trong Marketing, dịch vụ được Philip Kotler định nghĩa như sau: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.” [9] Như vậy, vì tính vô hình và khó nắm bắt cũng như sự đa dạng, phức tạp trong các loại hình dịch vụ làm cho việc đưa ra khái niệm dịch vụ là khó khăn. Theo cách hiểu chung, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) cung cấp cho bên kia (người mua) mà chủ yếu là vô hình, không thể tách rời khỏi đối tượng cung cấp, có khả năng thay đổi và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu mới nào.
2 Dịch vụ là hoạt động cung ứng các sản phẩm bao gồm các yếu tố không hiện hữu giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản của khách hàng với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Cho đến nay, quan điểm và cách nhìn nhận về DVNH vẫn chưa có sự phân định rõ ràng và có nhiều cách hiểu khác nhau. Có quan điểm thì cho rằng ngân hàng là ngành không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội nên tất cả các hoạt động của NHTM đều xếp vào nhóm ngành dịch vụ. Tất cả các hoạt động của ngân hàng trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đều được coi là DVNH.
Trong khi, quan điểm khác lại cho rằng DVNH chỉ bao gồm các hoạt động ngoài tín dụng và nhận tiền gửi được gọi chung là các dịch vụ ngoài tín dụng hay dịch vụ phi tín dụng. Luật các TCTD 2010 sửa đổi, cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ đối với khái niệm DVNH. Cụm từ “dịch vụ” được đề cập tại khoản 1 điều 105 quy định về kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và các sản phẩm ngoại hối phái sinh có quy định “… Sau khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản, NHTM được kinh doanh, cung ứng dịch vụ (ngân hàng) cho khách hàng ở trong và ngoài nước các sản phẩm sau đây: (a) ngoại hối, (b) phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác”. Hoạt động kinh doanh của NHTM còn bao gồm 8 loại dịch vụ khác nhau được quy định tại điều 107.
[23] Theo WTO, trong bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức Thương mại Quốc tế, dịch vụ tài chính được xếp và phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ. [27] WTO phân loại dịch vụ thành 12 ngành: 1. Dịch vụ kinh doanh 7. Dịch vụ tài chính 2.
Dịch vụ liên lạc 8. Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội 3. Dịch vụ xây dựng và thi công 9. Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành 4.
Dịch vụ phân phối 10. Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao 3 5. Dịch vụ giáo dục 11. Dịch vụ vận tải 6.
Dịch vụ môi trường 12. Các dịch vụ khác “Dịch vụ tài chính bao gồm: Dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; DVNH và các dịch vụ tài chính khác; dịch vụ chứng khoán”. Trong đó DVNH bao gồm: Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng; Cho vay dưới các hình thức, bao gồm: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại; Thuê mua tài chính; Môi giới tiền tệ; Quản lý tài sản: Quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư; mọi hình thức quản lý tập thể; quản lý quỹ hưu trí; các dịch vụ lưu ký và tín thác; Các dịch vụ thanh toán bù trừ tài sản tài chính; Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như cung cấp các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; Các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới, các dịch vụ tài chính phụ trợ khác; Theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS): “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm: Mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi DVNH và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm)”.[27] Từ các định nghĩa trên có thể đƣa ra khái niệm DVNH nhƣ sau: DVNH là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Là các nghiệp vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng những tiện ích theo nhu cầu của khách hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Các loại hình dịch vụ do các ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế đều dựa vào hoặc phát triển trên cơ sở ba nhóm dịch vụ cơ bản: dịch vụ huy động vốn, dịch vụ tín dụng và dịch vụ thanh toán. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng 1. Tính vô hình DVNH không tồn tại dưới dạng vật chất, mà là kết quả của một quá trình chứ không phải là một thứ có thể nhìn thấy, đếm, chứa đựng, thử trước khi sử dụng.
Đây là đặc điểm đặc trưng để phân biệt SPDV ngân hàng với sản phẩm của các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế. DVNH chỉ thực sự bắt đầu khi khách hàng tìm đến và đưa ra yêu cầu cụ thể phù hợp với khả năng cung cấp của NHTM. Vì thế, khách hàng thường gặp khó khăn trong việc ra quyết định lựa chọn, sử dụng SPDV cũng như đánh giá chất lượng SPDV ngay cả khi đang sử dụng chúng. Thông thường, họ thường đánh giá thông qua hình ảnh tổng thể của ngân hàng.
Tuy nhiên, tính vô hình của dịch vụ lại có nhiều cấp độ khác nhau. Không phải tất cả các dịch vụ đều hoàn toàn có tính vô hình, hầu hết các dịch vụ đều được hỗ trợ bởi những vật thể hữu hình và những vật thể hữu hình đó được gọi là dấu hiệu vật chất của dịch vụ. Tính không thể tách biệt Quá trình cung ứng SPDV ngân hàng xảy ra đồng thời với quá trình sử dụng dịch vụ. Mặt khác, quá trình cung ứng SPDV này được tiến hành theo quy trình nhất định như quy trình cho vay, quy trình thanh toán qua ngân hàng, quy trình bảo lãnh… Do đó, ngân hàng không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho mà sản phẩm được cung ứng cho khách hàng khi họ có nhu cầu.
Tính không thể tách biệt của SPDV ngân hàng thể hiện ở tính kết hợp, liên kết chéo, nối tiếp của các SPDV và tiện ích đi cùng như tiền gửi, thanh toán… 1. Tính không ổn định và khó xác định SPDV ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Quy trình nghiệp vụ, công nghệ, trình độ đội ngũ nhân viên… Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng DVNH nhưng thường xuyên thay đổi nên DVNH khó có thể xác định một cách chính xác. Đồng thời, sự không đồng nhất về thời gian, cách thức, điều kiện thực hiện… cũng làm cho chất lượng dịch vụ không ổn định. Vì vậy các NHTM cần thực hiện việc chuẩn hóa trong phân phối dịch vụ.
Tính đa dạng phong phú và không ngừng phát triển Hiện nay các ngân hàng đang cố gắng phát triển theo hướng kinh doanh đa năng chứ không chỉ đơn thuần thực hiện những nghiệp vụ truyền thống như trước kia. Với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ thông tin, hiện nay trên thế giới đã có đến hàng trăm loại DVNH khác nhau. Với mỗi loại hình dịch vụ các ngân hàng đều cố gắng đa dạng hóa hình thức cung cấp. Phân loại dịch vụ ngân hàng theo tính chất nguồn thu Với vai trò trung gian tín dụng và trung gian thanh toán của NHTM đã mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế, xã hội.
Bên cạnh đó, các NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Đó là việc cung ứng SPDV. Việc phân loại các SPDV chỉ mang tính tương đối vì mỗi sản phẩm đều đã gắn liền với một vài tiện ích. Theo tính chất nguồn thu, ta có thể chia thành hai hình thức: Dịch vụ tín dụng Dịch vụ phi tín dụng 1.
Dịch vụ tín dụng Là hoạt động cấp tín dụng cho các tổ chức dưới các hình thức: Cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác. Cho vay: Là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Chiết khấu: Là việc TCTD mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán.