PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn hiện nay, khi mà quy mô hoạt động của ngân hàng ngày càng lớn, nhu cầu tuyển dụng lao động ngày càng cao, ứng dụng khoa học công nghệ vào hoạt động ngân hàng ngày càng hiện đại, chúng ta thường xuyên nghe thấy nhiều vụ việc tiêu cực được nhắc đến trên các phương tiện thông tin đại chúng, hay trong báo cáo thường niên của các NHTM thời gian gần đây, vấn đề RRTN thường xuyên được đề cập đến với những sai phạm xảy ra ở nhiều nơi với mức độ nghiêm trọng và tần suất ngày càng cao đã gióng lên một hồi chuông báo động cho hệ thống ngân hàng đối với hoạt động quản lý và phòng ngừa RRTN. Việc để xảy ra RRTN không chỉ gây tổn thất cho ngân hàng về vật chất và nguồn nhân lực mà còn có thể khiến cho uy tín của ngân hàng bị ảnh hưởng, kinh tế của đất nước bị suy giảm… Quản lý RRTN chính là quản lý kinh tế của hệ thống ngân hàng, đồng thời quản lý nền kinh tế của đất nước - Vì thế quản lý RRTN ngày càng có ý nghĩa quan trọng và cần thiết. Tuy vậy, cho đến thời điểm hiện nay, nhà nước vẫn chưa có chính sách quản lý đối với loại hình rủi ro này, chỉ một số Ngân hàng ý thức được vấn đề đã tự xây dựng cho mình cơ chế để quản lý riêng, nhưng vẫn chưa có giải pháp đồng bộ và triệt để.
Trong điều kiện môi trường kinh doanh ngày càng rủi ro, các ngân hàng thương mại của Việt Nam cần phải nâng cao năng lực quản trị nói chung và quản lý rủi ro tác nghiệp nói riêng để có thể phát triển bền vững ở thị trường trong nước cũng như trên toàn cầu. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam với lịch sử hơn 60 năm hình thành và phát triển nhưng vấn đề quản lý rủi ro tác nghiệp cũng mới bắt đầu được phân cấp và xây dựng bộ máy từ năm 2008, đến năm 2013 mới ban hành đồng bộ hệ thống nguyên tắc quản lý, quy trình quy chế hoạt động, hệ thống phần mền hỗ trợ. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - Chi nhánh Hà Tĩnh trong thời gian vừa qua đã có những bước phát triển vượt bậc. Năm 2016 BIDV Hà Tĩnh vươn lên thành chi nhánh hạng 1 trong hệ thống BIDV, quy mô các 2 phòng giao dịch được mở rộng, các hoạt động, dịch vụ Ngân hàng đều được đẩy mạnh.
Song song với quá trình phát triển về quy mô, nếu hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp không được quan tâm đúng mức sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động cũng như uy tín của Chi nhánh. Vậy Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) - chi nhánh Hà Tĩnh đã quản lý rủi ro tác nghiệp như thế nào? Đâu là những thành công, những vấn đề bất cập và nguyên nhân của tình hình? BIDV - chi nhánh Hà Tĩnh cần có giải pháp gì để quản lý hiệu quả loại rủi ro này? Xuất phát từ những vấn đề trên, trên cơ sở vận dụng lý thuyết được học trong chương trình đào tạo sau đại học của Đại học kinh tế quốc dân, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tăng cường hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Hà Tĩnh” để làm luận văn nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu: Quản lý rủi ro tác nghiệp (QLRRTN) là một vấn đề quan trọng của các ngân hàng trên thế giới từ trước đến nay. Tuy nhiên, Ủy ban Basel (thành lập năm 1974, là Ủy ban Giám sát ngân hàng - được một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) hợp thành tại thành phố Basel, Thụy Sĩ, vào năm 1987 đưa ra các nguyên tắc chung để quản lý hoạt động của các ngân hàng quốc tế) cũng mới chỉ đưa nội dung này vào khi sửa đổi Basel năm 2004 - nó được coi là một trong những nguyên tắc mà ngân hàng phải giám sát trong hoạt động.
Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều nỗ lực song cho tới nay NHNN vẫn chưa thiết lập được khuôn khổ pháp lý chính thức cho hoạt động QLRRTN, chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này từ đó kiến nghị NHNN sớm ban hành những quy định cụ thể hướng dẫn triển khai QLRRTN trên tất cả các mặt hoạt động từ thiết lập chính sách, quy định, quy trình cho đến phương pháp đo lường, yêu cầu vốn tối thiểu đối với RRTN và cơ chế trích lập dự phòng RRTN. Tuy không nhiều nhưng cũng đã có một số công trình nghiên cứu về QLRRTN ở các góc độ khác nhau: 3 - Tác giả Lê Thị Vân Khanh với đề tài “Hệ thống quản lý rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” (luận án tiến sỹ kinh tế - trường Đại học kinh tế quốc dân, năm 2016) [12] đã đưa ra cái nhìn tổng quan về rủi ro tác nghiệp và quản lý rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp phát triển hệ thống quản lý rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thương mại. Phạm vi đề tài rộng, nghiên cứu ở mức độ tổng thể, phân tích và các giải pháp đưa ra cho hệ thống quản trị cấp cao, chưa có cái nhìn cụ thể đến cấp hoạt động của chi nhánh. - Tiến sỹ Nguyễn Thùy Dung (Học viện Ngân hàng) với đề tài “Quản lý rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Đức và bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam” [15] tập trung nghiên cứu một số giải pháp quản lý rủi ro tác nghiệp cho các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam đúc rút từ thực tiễn quản lý rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thương mại Đức, tuy nhiên đề tài chưa đánh giá thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp toàn diện cho hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp.
- Trịnh Quốc Trung (Trường đại học kinh tế, luật, đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), Phạm Thu Thủy (Ngân hàng TMCP An Bình), Quản trị rủi ro tác nghiệp theo Basel II tình huốn ngân hàng TMCP An Bình, tạp chí KH&CN, tập 19, số Q4-2016 [19] đề cập đến vấn đề nâng cao năng lực quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tác nghiệp nói riêng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Ngoài hệ thông lý luận chung, tác giả đi vào nghiên cứu thực trạng và đánh giá khách quan về hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp tại Ngân hàng TMCP An Bình trên tất cả các phương diện, tìm ra nguyên nhân, từ đó đề xuất đồng bộ các giải pháp nhằm củng cố, nâng cao năng lực quản trị rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng này. Đồng thời, có thể mở rộng cho các ngân hàng khác từ nhận thức về quản trị rủi ro tác nghiệp đến văn hóa doanh nghiệp, quy trình và các biện pháp hỗ trợ khác. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu là ngân hàng thương mại cổ phần ngoài quốc doanh, chưa có bề dày hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
- Một số nghiên cứu khác được đăng tải trên các tạp chí, website cũng bàn về vấn đề này: Tác giả Nguyễn Hoài Linh, Ngô Thái Phượng với “ Quản lý RRTN tại Ngân hàng thương mại Việt Nam” (Diễn đàn nghiên cứu về tài chính tiền tệ, tạp chí thị trường tài chính tiền tệ số 20, tháng 10/2014) [14], tác giả nêu ra một số nội dung thiết yếu đối với việc QLRRTN tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tác giả Đỗ Lê [18] đưa ra vấn đề “Quản lý RRTN trong ngân hàng hiện nay” (Thời báo ngân hàng, năm 2012) bàn về các giải pháp trong đó nhấn mạnh vai trò kiểm tra giám sát và tăng cường hoạt động quản trị tại các ngân hàng. Các bài viết được đăng tải kể trên chỉ nêu và giải quyết một số vấn đề về QLRRTN, chưa đưa ra giải pháp quản lý một cách toàn diện, dừng lại ở mức độ quản lý vĩ mô, chưa đi sâu vào phạm vi hoạt động tại chi nhánh ngân hàng. Tuy nhiên, lý thuyết tổng quan là như vậy, nhưng áp dụng vào thực tế từng ngân hàng, từng chi nhánh khác nhau, các giải pháp trên có thể chưa thực sự phù hợp với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh.Vì vậy, cần tìm ra các thực trạng giải quyết và phương hướng hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV Hà Tĩnh.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu a. Mục tiêu tổng quát Nhằm đề xuất với BIDV Hà Tĩnh những định hướng và giải pháp tăng cường hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV Hà Tĩnh, góp phần giảm thiểu rủi ro tác nghiệp tại đơn vị, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Mục tiêu cụ thể - Xây dựng khung lý thuyết về của QLRR và QLRRTN trong hoạt động ngân hàng. - Phân tích, đánh giá thực trạng QLRRTN tại BIDV - chi nhánh Hà Tĩnh, tìm ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động QLRRTN tại BIDV Hà Tĩnh, BIDV Việt Nam và các cơ quan quản lý Nhà nước. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro tác nghiệp tại BIDV Hà Tĩnh Phạm vi nghiên cứu: - Về nội dung: Nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp tại BIDV - chi nhánh Hà Tĩnh. - Về không gian: BIDV Hà Tĩnh - Về thời gian: Số liệu được thu thập, phân tích và sử dụng trong 4 năm từ năm 2013 đến hết năm 2016 và trên cơ sở đó đề ra định hướng phát triển và giải pháp đến năm 2020. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau: - Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Đọc tài liệu, tổng hợp, phân tích, nghiên cứu các tài liệu thứ cấp … trên cơ sở đó xây dựng khung nghiên cứu cho hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp tại ngân hàng thương mại.
- Phương pháp phân tích thống kê được sử dụng để phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tác nghiệp trên kết quả thu thập số liệu thứ cấp và các số liệu điều tra, bao gồm: tổng hợp số liệu, tính toán theo các công thức thống kê, so sánh chuỗi số liệu, sử dụng hệ thống bảng số liệu, sơ đồ để mô tả.