Chương 1 PHÁP CHE XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG LĨNH VUC BẢO VE SỨC KHỎE NHÂN DAN - PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN QUAN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG DIEU rot delta bị KIỆN KINH TE THỊ TRUONG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHU NGHĨA VÀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN. Tiết 1: Pháp chế xa hội chủ nghĩa trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe nhân dân - Khái niệm và những đặc trưng Pháp chế xã hội chú nghĩa là một lĩnh vực được nghiên cứu khá sâu sắc trong khoa học pháp lý cua các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Nhiều công trình khoa học đã phát triển và làm phong phú học thuyết Mác-Lênin về pháp z chê. Lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật chỉ ra rằng: Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một hiện tượng xã hội phong phú và phức tạp.
Nội hàm của khái niệm rất rộng. Trong các mối quan hệ khác nhau. Pháp chế có nội dung riêng của minh. Mặc dầu pháp chế xã hội chủ nghĩa là một khái niệm có nội hàm phong © phú, nhưng hầu hết trong các định nghĩa khoa học đều nhấn mạnh đến một đặc trưng cơ bản nhất của pháp chế, đó là sự tuân thủ một cách triệt để các quy phạm pháp luật của các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các cá nhân có trách nhiệm và của mọi công dân.
Có thể ” khái quát những nội dung cơ bản của pháp chế Xã hội chủ nghĩa. thường được sử dung trony các tài liệu khoa học như sau: -:Pháp chế như là doi hỏi cua việc tuân thủ và chấp hành các quy phạm pháp luật. - Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản vẻ tổ chức và hoạt động của nhà nước xã hội chu nghĩa. - Pháp chế là một phương pháp quản lý nhà nước.
phương pháp thực hiện những nhiệm vụ chuyên chính giai cấp. một bộ phận cấu thành của dân chủ và chuyên chính. Vi vậy , sự khác nhau trong các định nghĩa thường chi xoay đuanh 2 vấn dé: - Pháp luật là yếu tố không thể tách rời của pháp chế - Hoặc là. mặc,dù pháp luật và pháp chế có mối quan hệ không tách rời nhau, nhưng chúng là những hiện tượng độc lập.
pháp luật là cơ so của pháp “ chê. Về thuộc tính của pháp chế nói chung. Anghen thường -nhấn mạnh trong tác phẩm của mình: "Pháp chế là sự tuân thủ luật của những người tham gia các quan hệ xã hội” [2, trang 675]. Ở nước ta trong các bài viết cũng thường có sự đồng nhất hay lẫn lộn giữa pháp luật và pháp chế.
Nhưng nhìn chung, các nhà khoa học đều thống nhất về nội hàm cơ ban của khái niệm pháp chế Xã hội chủ nghĩa là sự tuân thủ một cách triệt để, nghiêm khắc những mệnh lệnh hay đòi hoi của pháp luật. Để hiểu sâu sắc hơn bản chất của pháp chế Xã hội chủ nghĩa, nội dung của nó còn có ý nghĩa trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay hay không, cần phải tiếp cận lý luận của những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin _ và những luận điểm khoa học khác về vấn dé này. Quan điểm cua chủ nghĩa Mac - Lê nin và các luận điểm khoa học khác về pháp chế xa hội chủ nghĩa 1. Học thuyết Mac - Lê nin về pháp chế và sự vận dụng.I Lénin là người đầu tiên dua ra các luận điểm cơ bản về pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
Ngay từ năm thứ 2 của nhà nước Xô viết. Lênin đã viết "Sc thảo dé cương quyết định vẻ việc tuân thủ đúng pháp luật" - Đề cương này đi trở thành cơ so dé ra nghị quyết về việc tôn trọng nghiêm chỉnh, pháp chế Năm 1922 trong bức thư "Ban về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế”. Lénin đã đưa ra những luận điểm cơ bản làm cơ sở cho pháp chế Xã hội chư nghĩa, ở đây. Người đã nêu lên những nội dung cơ bản về pháp chế Xã hộ: a ~ chu nghia.
Trong bối cảnh cách mang Nga mới thành công, một chính sách kint tế, một đạo luật, sắc lệnh được ban hành và thực hiện là một cuộc đấu trani: giai cấp hết sức gian khổ. Bên cạnh sự thù địch của các thế lực phan các] mang còn là sự can trở của bệnh hành chính quan liêu trong bộ máy nhà nước và hiện tượng không tuân thủ các đạo luật của chính quyền xô viết trong đờ sống xã hội. Một sự thật mà Lénin đã nói ra là: " Chúng ta đang sống tron: tỉnh trạng mà đâu đâu cũng có những hiện tượng không tôn trọrg pháp luật và ảnh hưởng của địa phương là một trong những trở ngại lớn nhất. công cuộc thiết lập pháp chê” [9.
Người tường gắn việc củng cố quyền lực nhà nước, quyền lực củ: nhân dân với việc củng cố pháp chế cách mang. pháp chế Xã hội chủ nghĩa V.] Lénin cho rằng ” Điều kiện cua một chính quyền vững vàng và chấc cha: càng tiến bộ. sự trao đối cua dan chúng càng phát triển, thi phải cấp bách đ ra khẩu hiệu kiên quyết phải có pháp chế cách mạng rộng lớn. 404] \) Thứ nhát: Trong các co quan bao vệ pháp chế.
việc tổ chức và hoạt động của nó phải trên cơ sở bảo vệ chế độ thực hiện pháp luật thống nhất trong ca nước cộng hòa.I Lênin cho rằng tổ chức Viện kiểm sát theo nguyên tác "Song trùng trực thuộc" như các cơ quan nhà nước khác là một sai lầm. Viện kiểm sát theo V.I Lênin là cơ quan kiểm sát toàn bộ chế độ tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước. viên chức nhà nước và mọi công dan. Nó bao đảm cho " bất cứ quyết định nào của bất cứ một cơ quan hành chính địa phương nào cũng không đi ngược lại pháp luật [9, trang 233].
Cho nên " Viện kiểm sát địa phương chỉ trực thuộc vào Trung ương" [9, trang 236]. Theo tư tưỡng này của C. Mác "pháp luật không thể cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do phương thức sản xuất nhất định sinh ra”. Từ tư tưởng này có thể rút ra một số kết luận sau: - Có thể xem luận điểm trên là phương pháp luận chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật.
Sự vi phạm pháp luật trong hoạt động xây dung pháp luật, theo VỊ. Lénin không kém phần nguy hại hơn so với việc không thực hiện những đòi hỏi của luật trong quá trình hoạt động áp dụng pháp luật. Sự thực hiện các văn bản pháp luật trái với các đạo luật, trái với các quy luật phát triển _ me hội, trái với ý chí va lợi ích của nhân dân sẽ mang đến thiệt hại cho xã hội. Mác cho rằng phải thực hiện "Nhiệm vụ phá vỡ tất cả những quyền lực có tính chất địa phương, lãnh thổ, thành thi và tỉnh để tao ra sự thống nhất".
153] - Tính tối cao của các đạo luật trong hệ thống các van bản quy phạm Phap luật. Day là một đỏi hoi trong học thuyết pháp chế của Lênin. Doi hỏi na hị Ay y bat Hguon từÿ chỗ: các R R dao luật ”. P phan anh ý chí2% a) 2 và chủ quyền ” ` của toàn thể nhân dân.
điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ ban quan trọng và ôn định trong Nhà nước. nó phải đứng đầu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy tất cả các van bản pháp luật khác cần phải được hình thành trên cơ sở Hiến pháp và các đạo luật cơ ban tạo thành một hệ thống thống nhất các van bản quy phạm phap luật trong cả nước.' Tính thứ bậc của các văn bản quy phạm pháp luật là nhân tố đảm bảo cho tính thống nhất và tối cao của các đạo luật khi xây dựng cũng như thực hiện pháp luật trong phạm vi ca nước. - Pháp chế phần ánh mối quan hệ tác động điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ xã hội, chế độ chính trị.
với phương pháp thực hiện quyển lực chính trị, tổ chức lao động quyền lực. Lê nin cho rằng pháp chế Xã hội chủ nghĩa không thể có được nếu thiếu dân chủ. Không thể có dan chủ chân chính ở bên ngoài hay bên trên pháp luật và trong mối liên kết với sự lộng quyền. bất chấp pháp luật.
Do đó việc thực hiện ry trong Đ đời sống > những > nguyên fo) y tắc dân chủ P phải được. trong > hiến pháp và các đạo luật. Ngược lại, trạng thái pháp luật của đất nước lại phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện dân chủ trong đời sống nhà nước và xã hội. Điều y đó, theo Lénin, bat buộc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước cũng như các tổ chức chính trị xã hội phải đựa vào pháp luật, tuân thủ pháp luật và gắn với trách nhiệm pháp lý về những vi phạm các quy tắc pháp luật.
Dé dam bao thực hiện nguyên tắc này phải tiến hành kiểm tra, thanh tra, kiểm sát và giám sát tổ chức và hoạt động lao động quyền lực một cách thường xuyên. - Trạng thái pháp chế trong xã hội, liên quan trực tiếp với nhân đạo, công bằng xã hội. địa vị bình dang của con người. Pháp chế là phương pháp dam bảo và bảo vệ các quyền của con người.
tính không dung hợp với các biểu hiện lộng quyền, không pháp luật. Tư tưởng về pháp chế Xã hội chủ nghĩa của V. Lê nin được thé hiện sâu sắc trong Sắc lệnh Tháng Mười đầu 11 tiên do Người soạn thao. Theo sáng Kiến của Lê nin.
tại Đại hội bất thườn các Xô Viết Nga lần thứ VI. tháng 11 nam 1917. đã xem xét vấn dé pháp ch và thông qua Nghị quyết lịch sử về việc tuân thủ một cách nghiêm chỉnh cá. đạo luật của chính quyển Xô Viết.
Tư tưởng đó về sau được Người nhấn man! trong bức thư gửi Công nhân và Nông dân chiến thắng bọn Côntsắc. Trong đó Người viết: "Phải tuân theo từng li từng tý những luật lệ va mệnh lệnh cu: chính quyển Xô viết và đôn đốc mọi người tuân theo” [9, tr. Một trons những tài liệu cơ bản của Lênin viết về phần chế là bức thư gửi Bộ Chính trị Ban chấp hành Dang cộng sản Bon sé vích Nga " về song trùng trực thuộc Và pháp chế”. Những tư tưởng pháp chế trong bức thư này của Người chẳng những có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng bộ máy Nhà nước mà còn có ý nghĩa trong việc soạn thao về phương diện lý luận các vấn đề về pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
Đối với VI.